Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Sự tích hoa đào.

hoa-dao-13

Ngày xưa, ở phiá đông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng.
Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy xa bay.
Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái.
Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong lọ,nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ, Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Sự tích hoa mai vàng.

20140121-105725.jpg

Ngày xưa có một cô gái tên Mai con một người thợ săn vốn rất gan dạ và can đảm. Năm lên mười bốn, cô gái đã được cha đào luyện trở thành một nữ hiệp sĩ vô cùng tài giỏi và tinh thông võ thuật.
Lúc ấy có một con yêu tinh đến quấy phá một làng nọ, dân làng treo giải ai giết được yêu tinh sẽ được thưởng trọng hậu. Thế là hai cha con lên đường giết yêu tinh. Sau khi giết được yêu tinh trở về, danh tiếng của hai cha con vang dội và truyền rao khắp nơi. Vài năm sau người cha lâm bệnh nặng và sức khỏe ngày một yếu đi. Còn cô con gái thì đã bước qua tuổi mười tám, sức khỏe càng tăng lên gấp bội, võ thuật càng ngày càng tinh thông.
Năm ấy yêu tinh rắn lại xuất hiện ở một vùng nọ và dân làng đến khẩn khoàn hai cha con đi giết yêu tinh. Trước khi con gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp và cô gái hứa ngày trở về sẽ mặc bộ đồ vàng ấy cho mẹ nhìn thấy cô từ xa. Sau đó hai cha con trèo non lội suối tìm cho ra yêu tinh để tiêu diệt nó. Người cha vì sức yếu nên không phụ giúp được gì để cô con gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhưng cuối cùng cô gái cũng giết được nó. Nhưng rủi thay, trước khi chết, con yêu rắn đã vùng dậy dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái.
Cảm thương trước tấm lòng hiệp nghĩa của cô gái cũng như sự khóc lóc van nài của người mẹ tội nghiệp nên ông Táo trong nhà đã khẩn khoản xin Ngọc Hoàng cho cô gái được sống lại và trở về với gia đình trong chín ngày.
Thế là từ đó, cô gái được trở về nhà trong hình hài nguyên vẹn với gia đình trong chín ngày (từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 6 Tết thì biến mất).
Về sau khi cha mẹ và người thân của cô gái mất hết, cô gái không trở về nhà nữa mà hóa thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái cô. Thấy cây hoa lạ mọc lên bên miếu và cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa ấy là cây hoa mai và chiết nhánh mang về trồng khắp nơi để trừ tà đuổi quỷ, mang lại may mắn cho gia đình mỗi độ xuân về, năm hết tết đến.
Mặc dù chỉ là câu chuyện cổ tích dân gian, nhưng một phần nào đó đã nói lên ước mơ và hoài bão thiết tha của người Việt xưa về một cuộc sống an lành, ấm no, hạnh phúc. Đó là những mơ ước, những hoài bão mà con người trong bất cứ thời đại nào cũng mong mỏi như vậy. Tuy bản thân cây đào hay cây mai chỉ là thực vật và trổ hoa theo mùa chứ không có gì linh thiêng cả, nhưng nếu đã là một di sản tinh thần của người Việt thì cũng nên được bảo tồn và giữ gìn cho các thế hệ sau vì đó là những nét văn hóa truyền thống đẹp và quý báu. Nó làm nên giá trị văn hóa Tết cổ truyền của dân tộc.

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

TRÒ CHUYỆN CUỐI NĂM 2013 by Tuệ Nguyện


Cuối năm là khoảnh khắc dùng để ôn lại, dùng để nhìn lại những chặng đường đi qua trong một năm. Đáng lẽ TN phải viết gì đấy trước giao thừa nhưng vì sức khỏe không cho phép nên bây giờ mới có thể thực hiện được. Trước khi viết những điều này, bản thân TN phải ngồi lại để nhìn lại tâm mình để tránh việc quá cảm tính trong lúc viết hay đi xa với mục đích muốn gửi gắm những lời khuyên lúc ban đầu. Mục đích của bài viết này chỉ nhằm hai mục đích đó là: “phản ánh và khuyến khích”

Thời đại công nghệ thông tin, nên chỉ vài cái click chuột là chúng ta có thể lấy thông tin từ nơi khác và chuyển tải thông tin đến nơi khác. Nên hàng loạt bài viết về tôn giáo, thiền định, v.v… cũng trở nên phong phú và cái giá trị của những bài viết này cũng đủ dạng.

Đối với vai trò của một vị tu sĩ trẻ, trẻ ở đây có hai nghĩa trẻ về tuổi lẫn trẻ về năm tu thì việc cần phải làm đó là học để có kiến thức, có kiến thức mới thẩm xét được sự đúng sai trong oai nghi, phẩm hạnh, v.v… đặc biệt là cái “hiểu đúng”? (không dám dùng từ tri kiến gì cho nó cao xa), hiểu đúng ở đây chỉ đơn thuần là những gì mà mình đang cho là tu tập nó có đúng với Pháp và Luật mà Đức Phật đã dạy hay không? Nếu nó đúng, thì nó đúng như thế nào, trong hoàn cảnh nào, đối với đối tượng như thế nào mà Đức Phật lại hướng dẫn như thế? V.v…Nói gì thì nói chứ e ngại nhất là cái kiểu học chưa thông mà bị lầm lẫn cái “sở kiến, sở chứng, sở đắc” chi chi đấy rồi đem rao giảng cho thiên hạ thì TỘI CHO HỌ QUÁ!

Nói thêm về vấn đề HỌC, chúng tôi nhớ khi mới vào chùa cho đến lúc được tập tành ngồi lên Pháp tọa rồi đấy, cái công việc đáng sợ nhất đó là BỊ BẮT THUYẾT PHÁP vào mỗi nửa tháng nên thường trốn tránh hoặc giả vờ đùn đẩy. Đối với thế hệ Tăng sinh trẻ cái công việc mà chúng tôi thích thú làm nhất chỉ đơn thuần là “Ăn, ngủ, chơi và học”; tuổi trẻ chỉ có việc học là niềm vui lớn nhất. Nhiều người cứ bảo: “Ôi! Mấy ông sư nhỏ chỉ lo học hành chẳng lo tu gì cả!” Chữ TU nó không nằm trọn vẹn trong một hành động duy nhất là chân xếp bằng, mắt lim dim; mà chữ TU bao gồm nhiều oai nghi và trong công việc như ăn như thế nào? đi như thế nào? nói chuyện như thế nào? v.v… dễ gì có được mấy ai biết mấy ông sư nhỏ phải học và phải tu mấy cái này.

Trở lại vấn đề của mấy vị “trẻ trong đời sống phạm hạnh”(không hẳn là trẻ tuổi), hầu như mấy vị này thường thích chọn con đường thiền định. Như đã nói từ đầu, mục đích của bài viết là phản ánh và khuyến khích nên không có sự đả kích trong đây. Mặc dù, Đức Phật có ban hành Gantharadhura – trách nhiệm trong việc học và Vipassanādhura – trách nhiệm trong việc thực hành Vipassanā; nhưng điều đấy không có nghĩa là vị nào hành pháp thì được phép không cần học để “hiểu đúng”. Cái thiếu kiến thức hoặc thiếu sự “hiểu đúng” nó rất là tai hại, ví dụ như thế này: Ngày trước chúng tôi có ở một cái trung tâm thiền được nhiều người xưng tụng là nơi thanh tịnh về giới luật. Ở một thời gian, thì thấy có mấy vị kia bàn cãi một cách sôi nổi lắm, nghe ra thì cũng mấy điều luật không quan trọng lắm nhưng mấy vị làm kiểu như là phạm phải điều ấy là mất đi cả phẩm hạnh Tỳ khưu vậy. Khổ nỗi cái hệ quả của việc thiếu kiến thức nó không dừng ở mức đó, những vị đấy lấy việc Thanh Tịnh Giới của mình làm niềm tự hào rồi THỂ HIỆN bằng nhiều hình thức rất là ngộ nghĩnh. Không biết mấy vị ấy có bao giờ hình dung cái hình ảnh của “một người vào rừng tìm lõi cây, chặt vỏ ngoài cho là lõi cây rồi đem về” – đối với những vị thỏa mãn và hài lòng với sự thành tựu về giới của mình thì cũng như người lấy được vỏ ngoài mà nghĩ là lõi cây. Điều tai hại của việc thiếu kiến thức đó là lầm tưởng PHƯƠNG TIỆN LÀ CỨU CÁNH.

Đối với thời đại thông tin tràn lan như hiện nay, thì những người tại gia cư sĩ cần chuẩn bị cho mình một khả năng giống như một người thợ kim hoàn thử vàng phải biết đốt nóng, chà xát, v.v… để thử vàng; cần phải chuẩn bị cho mình cái lý tính để đánh giá, học hỏi nhìn nhận vấn đề thay vì cái cảm tính. Có một lần, đọc một cái bài nọ, chúng tôi thấy người viết thiếu kiến thức trong việc nhận định và đưa ra nhiều cái sở tri, sở kiến, xem tiếp những comment phía dưới thì thấy toàn là “ôi! Sư minh triết quá!, sư chí lý quá!”, thật tình là đọc mãi mà không thấy minh triết và chí lý điểm nào. Đây chỉ là một trường hợp điển hình thôi nhưng nó thể hiện lên cái tính “dễ hài lòng, dễ chấp nhận những gì được nêu lên” nói ngắn gọn và xúc tích hơn là “A DUA”.

Điểm tiếp theo đáng lưu ý là về vấn đề nương nhờ và tu học theo một vị Tăng nào đấy, sau đó, hình thành lên cái mà chúng tôi gọi là THẦN TƯỢNG HÓA CÁ THỂ, nhưng có ai nhớ rằng quy y Tăng (Saṅghaṃ saraṇam gacchāmi) là nương nhờ Tăng chúng, chứ không phải nương nhờ 1 ông sư nào đấy. Nhiều chuyện oái ăm cũng từ cái nương nhờ riêng biệt một cá thể mà ra như ông sư đó làm chuyện quấy hay hoàn tục rồi người còn lại ôm HẬN, mất niềm tin, v.v… chuyện cứ tưởng như đùa mà có thật. THẦN TƯỢNG HÓA CÁ THỂ là một dạng bệnh chung mà nhiều người mắc phải nó không chỉ dừng ở mức độ như trên, đôi khi có những cuộc khẩu chiến đại loại như “Thầy tui thiền sư ABC dạy thế này….”

Nói mãi chắc cũng không hết những chuyện đại loại thế này. Thiếu kiến thức và hiểu chưa đúng đâm ra nhiều thứ khá là tai hại. Do đấy mà việc học rất là cần thiết cho tất cả mọi người, chúng tôi còn nhớ mãi cái hình ảnh của một vị lão tăng tuổi hơn bảy mươi người mảnh khảnh, lọm khọm hằng ngày đi bách bộ quanh rừng thiền nhưng miệng vẫn tụng niệm những câu Phật ngôn… Những gì được phản ánh trái chiều bên trên vốn không phải quy chụp tất cả mọi người, mà là hình ảnh mà chúng tôi hay mọi người thường gặp đâu đó hoặc đã gặp mà không ai dám thổ lộ hay trình bày. Bài viết này với mục đích như một lời trò chuyện cuối năm, chỉ với mục đích thư giãn, để nhìn lại, để khuyến khích mọi người hãy học.

It’s never too late to learn!

Tuệ Nguyện 04/01/2014 


Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

ÔNG NỘI TRONG CÁI SỌT







Có câu truyện dân gian của người Á đông kể về đứa con trai tàn nhẫn với cha đẻ của mình.

Truyện kể rằng có đôi vợ chồng trẻ. Có cậu con trai chín tuổi. Cha của người chồng trẻ tức là ông nội của cậu bé chín tuổi cùng sống chung. Người cha đã già và hom hem, không có khả năng lao động và ngồi một chỗ. Người vợ trẻ tuổi phàn nàn về sự có mặt của bố chồng tức ông nội của cậu bé chín tuổi trong nhà. Nhưng người chồng, luôn cố gắng thuyết phục và làm dịu vợ mình. Một đêm, người vợ trẻ chờ cho con trai đi ngủ và bảo chồng nếu như muốn sống với cô ấy thì hãy bỏ cha già đi, người chồng đã không bảo vệ được cha mình. Anh ấy đã đồng tình với ý kiến của vợ và quyết định rằng cuộc sống gia đình phải được tiếp tục, không thể đứt quản. Cho rằng là con trai đã ngủ, hai vợ chồng âm mưu bàn tính để đem bỏ cha vào rừng. Người vợ nói: "sáng sớm mai, anh phải bảo cha rằng anh mang cha đi hành hương. Cho cha vào sọt và mang bỏ vào rừng sâu. Bỏ cha ở đó với thú vật và hãy trở về nhà". Cậu bé còn thức nằm trên giường và nghe lỏm những điều cha mẹ cậu bàn tính.

Sáng hôm sau, cậu bé thức dậy. Như dự kiến, người chồng đặt cha vào sọt và chuẩn bị đi. Cậu bé hỏi. 
- thưa cha, cha mang ông nội đi đâu ?

- Con trai à, cha mang ông đi hành hương.

- Được, nhưng cha nhớ mang sọt về cho con bởi vì con muốn dùng cái sọt để mang cha đi hành hương khi cha đến tuổi như ông nội.

Lúc gay go quyết định cho hai vợ chồng trẻ. Họ đã chuyển tâm và tiếp tục nuôi dưỡng cha tại nhà.

Câu chuyện ngụ ý thật châm biếm và có ý nghĩa về mặt đạo đức làm người.



Thời Ấn Độ cổ cũng có vài câu chuyên tương tự như vậy. Chủ tố của các câu truyện cũng nói lên sự bạt đãi của con trẻ đối với cha mẹ và điều tệ hại này đã được cháu nội nhắc nhở.



Theo câu truyện tương tự thì cậu con trai cho cha lên xe ngựa để bỏ cha ở nghĩa địa. Cháu nội đã đi theo sau cha. Khi đến nghĩa trang, cha cậu bé đào mồ chôn ông nội, cậu bé bảo cha “ xin cha hãy đào thêm một mồ nữa để con chôn cha lúc cha gia như ông nội, con sẽ không mât công đào”. Dĩ nhiên điều này đã ngăn được hành động của người cha trẻ. Ngụ ý bài học cho câu truyện là khi bạn cư xử với cha mẹ mình thế nào thì con cái sẽ cư xử với bạn như vậy.


Một câu truyện khác, ông nội được nhận thúc ăn trong cái đĩa cũ bẩn và đặt dưới đất. Cái dĩa bẩn đến nổi không ai sờ vào nói chi là dùng để đựng thức ăn. Khi con trai nhận thấy không muốn nuôi dưỡng cha thì quyết định quăn cái đĩa bẩn đi. Cậu bé ngăn và bảo:

- Xin cha đừng quăng cái đĩa đi. Con muốn giữ nó lại.

Người cha trẻ hỏi “để làm gì”

Cậu bé trả lời “dĩ nhiên bởi vì con muốn đựng thức ăn khi cha đến tuổi như ông nội’. Điều này dạy cho người cha trẻ cần phải thương quý cha mẹ già.

Ngày xưa, ở một vùng nọ, có vợ chồng kia hiền lành và chăm chỉ, hai người lấy nhau đã lâu mà vẫn chưa có con, họ cầu Trời khấn Phật mãi nhưng vẫn chưa có kết quả.
Hôm ấy, sau khi hai vợ chồng đi lễ chùa về, trời đang nắng bỗng nổi cơn mưa lớn, sấm chớp nổ đùng đùng làm cả hai xanh mặt, vội vã chạy đến một cái miếu nhỏ ở bên đường để núp tạm tránh sét, khi chạy gần đến bậc thềm thì người vợ trợt té, úp bụng xuống đất.
Chồng thấy vậy thì hoảng quá, bồng vợ mang vào bên trong miếu, tưởng rằng vợ bị sây sát gì, nhưng người vợ bảo là chẳng bị trầy trật ở đâu cả, chỉ thấy hơi đau nhói một chút ở bụng mà thôi.
Mưa tạnh trời quang, vợ chồng đưa nhau về nhà và một tháng sau thì người vợ mang thai. Biết rằng Trời Phật đã nhận lời, hai người mừng vô hạn, bèn lấy một phần ba của cải đem đi bố thí cho người nghèo để đền ơn.
Đến ngày khai hoa nở nhụy, người vợ sinh ra được một thằng bé kháu khỉnh trong niềm sung sướng tột cùng. Người chồng bảo:
- Trời Phật đã thương mà nhận lời chúng ta, thì chúng ta phải cố sống làm sao cho xứng với tình thương ấy. Tôi dự tính trích thêm một số bạc nhà mình để sửa lại chùa, mình thấy thế nào?
- Thì mình tính sao em nghe vậy, ân đức này cao bằng trời biển, biết bao nhiêu mà sánh bằng được?
Và thế là ngôi chùa đã được người chồng bỏ tiền ra sửa sang lại khang trang hơn trước.
Đứa bé đầy tháng thì ông mang đến lễ chùa tạ ơn và được đặt tên là Phúc để nhớ đến ân phúc Trời Phật đã ban cho vợ chồng họ.

Thằng Phúc chóng lớn và khôn ngoan thấy rõ, mới lên ba mà đã ăn nói như người lớn vậy, hai vợ chồng cảm thấy vô cùng sung sướng và hạnh phúc khi có một người con như thế.
Những tưởng cảnh đầm ấm này sẽ được dài lâu, ngờ đâu sự việc đến không như họ nghĩ, vì cũng năm đó, người vợ lâm bạo bệnh rồi đột ngột qua đời, dù người chồng đã tìm đủ thầy, chạy đủ thuốc.
Người chồng chỉ biết ôm con mà khóc, không ngờ tình cảnh lại thay đổi một cách éo le và nhanh chóng như vậy, mới hôm nào gia đình còn hạnh phúc tràn trề mà nay đã gãy gánh giữa đường, phải chịu cảnh gà trống nuôi con.
Sự đời như thế vẫn chưa yên vì cái rủi vẫn đeo bám ông, quá nhớ thương vợ và khóc lóc nhiều nên mắt ông sưng lên, vài tháng sau thì mờ dần, không nhìn rõ được.
Năm đó lại xảy ra hạn hán, mất mùa, người ăn xin đông như kiến, ông lại có tính hay giúp người nên cơ ngơi của ông cứ thế mà vơi dần.
Nạn đói đã bắt đầu xảy ra, người ta giành giật nhau từng củ khoai, bụi sắn mà không còn nghĩ gì đến tình làng nghĩa xóm.

Thấy ông bị mờ mắt, con trai thì còn nhỏ dại, bọn gia nhân của ông ngày trước đói quá hóa liều, đêm hôm ấy chúng đột nhập vào nhà bắt trói cha con ông lại rồi tha hồ vơ vét thóc lúa bạc tiền.
Không nhìn thấy gì nên ông chỉ biết tri hô lên cầu cứu, bọn ác nhân liền phang ông một gậy để ông im miệng vì sợ lộ tung tích, thằng bé Phúc còn nhỏ quá nên chỉ biết sợ hãi nhắm tịt mắt lại rúc vào người cha để tránh nạn.
Bọn cướp vét hết tài sản của ông rồi bỏ đi, để lại thằng bé khóc lóc ngơ ngác bên xác cha mình.
May mà ông chỉ bị ngất đi chứ không chết. Khi người làng hay tin đến cứu thì bọn cướp đã cao chạy xa bay, giờ đây cha con ông chỉ còn cái xác nhà không và mảnh vườn trơ trụi. Ông ôm lấy con mà an ủi:
- Cu Phúc đừng khóc nữa. Bố còn sống đây là được rồi. Thế nào bố cũng có cách gầy dựng lại, cho con ăn học thành người…
Tuy mắt bị mờ, không còn nhìn thấy rõ, nhưng ông vẫn không chịu thua số phận, cố gắng hy sinh tất cả vì con.

Thấy con đói, ông lùng sục khắp nơi để lặt từng mớ rau, dò dẫm đào từng củ khoai, củ chuối, lặn lội mò cua bắt ốc để nuôi con qua ngày đoạn tháng.
Trời cũng không phụ lòng nên cha con ông vẫn sống sót được, thoát qua khỏi mùa đói khắc nghiệt năm ấy.
Ông làm lại từ đầu để gầy dựng cơ nghiệp và lo cho con ăn học, dù có phải làm thuê làm mướn, cực khổ trăm bề, ông cũng không từ nan bất cứ việc gì, miễn sao có cái ăn cho thằng Phúc và gởi nó theo học với thầy đồ trong làng, vui cùng chúng bạn cùng tuổi.
Năm tháng qua đi, Phúc mỗi ngày một khôn lớn và người cha mỗi ngày một già đi, ông vẫn âm thầm lo cho con ăn học mà không quản khó nhọc và sức lực hao mòn.
Ngày con trai lên kinh ứng thí là ngày người cha mừng đến rơi nước mắt, vì ước vọng của ông bao lâu nay đã thành hiện thực.
Con đi rồi, ông lần ra thắp hương nơi mộ vợ mà rằng:
- Xin mình chứng giám cho lòng thành của tôi, có thương con thì cầu xin cho nó được đỗ đạt, làm quan vinh hiển để đổi đời cho nó, còn tôi thì phận già ra sao cũng được. Trước sau sống đời chung thủy với mình, vui vầy sớm hôm với con với cháu.

Quả nhiên, người con trai đỗ á khoa kỳ thi năm ấy và được cử làm quan tri huyện trong vùng. Người cha nghe tin mừng không kể xiết, thế là tâm nguyện đã thành, ông nghĩ vợ mình chắc cũng đang mỉm cười nơi suối vàng khi biết con trai đã công thành danh toại.
Quan tri huyện Phúc nhậm chức được hai năm thì lấy vợ, nàng là con gái của một phú ông trong vùng, do đó mà cuộc sống cũng khá giả và hạnh phúc.
Khi con đã thành đạt thì người cha bây giờ mắt đã lòa đi nhiều, bao nhiêu sức lực đã hao phí khi còn trẻ để làm lụng lo lắng cho con, bây giờ tuổi già, sức yếu, chẳng làm gì được, chỉ biết sống bám vào con trai cho trọn vẹn tuổi già.
Quan tri huyện thấy cha đã già yếu, nên lo lắng chăm sóc cho cha rất chu toàn, khiến người cha lấy làm mãn nguyện và sung sướng trong lòng vì mình đã có một người con hiếu thảo.
Ngày tháng trôi đi nhanh như vó câu băng qua cửa sổ, vợ chồng quan tri huyện cũng có một người con trai xinh xắn và dễ thương như vợ chồng ông ngày trước.
Mặc dù mắt ông đã mờ nên ông không nhìn thấy rõ gương mặt cháu nội, nhưng ông cũng mường tượng ra được ít nhiều qua tiếng nói, cử chỉ, ông thấy thằng bé cũng thông minh và sáng dạ như thằng Phúc khi xưa, gia đình ông lại đầm ấm và tràn ngập tiếng cười.

Ngày đứa cháu nội lên bốn thì sức ông đã yếu lắm, tay chân run lẩy bẩy, mỗi lần ăn uống thật là khó khăn, mắt mờ nên ông không nhìn thấy, làm thức ăn đổ trong đổ ngoài, người con dâu phải dọn dẹp mãi nên lâu ngày thành ra khó chịu.
Đã vậy cứ đôi ba hôm ông lại làm rơi vỡ một cái chén, vì tay ông cứ run cầm cập nên không giữ chặt được, ông cũng lấy làm ngại lắm nhưng không biết làm thế nào vì sức mình đã yếu lắm rồi.
Người con dâu thấy vậy tiếc của nên không dám dọn chén kiểu cho ông nữa vì ông cứ làm rơi hoài, cô nàng thay bằng chén sành để lỡ có đánh rơi thì cũng ít hao hơn. Quan huyện lúc đầu không đồng ý, nhưng sau cũng nghe theo lời vợ vì nghĩ rằng mắt cha đã mờ, đâu có phân biệt được chén kiểu hay chén sành.
Nhưng rồi chồng chén sành cũng ngày một vơi đi vì ông cứ đánh rơi mãi khiến vợ chồng quan huyện không biết xử trí thế nào nữa.
Người vợ bèn nghĩ ra một cách, liền bảo chồng:
- Hay là ta kiếm cái gáo dừa làm chén để dọn cho cha ăn, nếu lỡ rơi xuống đất thì cũng đâu có bể, khỏi phải mất công thay chén khác.
- Không được, ai lại làm thế với cha bao giờ! Thiên hạ biết được thì còn coi mình ra gì.
- Nhưng cứ mỗi ngày đánh rơi một cái thì làm sao mình kham nổi, vả lại mắt cha mờ nên có thấy gì đâu, chén gì thì cũng vậy thôi.
Người chồng cứ phân vân mãi, nhưng rồi thấy vợ nói cũng phải, nghĩ rằng chắc cha cũng chẳng nhìn thấy gì nên giấu mọi người trong nhà, lấy cái gáo dừa đẽo gọt miệng cho phẳng để làm chiếc chén theo như lời vợ.

Đứa cháu nội ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc chén cơm của ông làm bằng gáo dừa, có rơi xuống đất cũng không bị bể, nó cảm thấy lạ lắm, nhưng không lộ ra nét mặt nên bố mẹ nó đâu có biết.
Mỗi lần ăn cơm, cầm chiếc chén trên tay, ông nhận ra ngay đó là chiếc gáo dừa, nhưng ông không nói ra vì sợ mất mặt con mình, dù sao con trai mình cũng là tri huyện trong vùng. Tuy vậy, trong lòng ông đau như bị muối xát, chỉ biết âm thầm nén lại mà thôi.
Hôm nọ, quan tri huyện đi công cán ở xa về, nghe lục đục bên hông nhà liền cùng vợ bước đến xem, họ thấy con trai mình đang cầm dao đẽo gọt hai cái gáo dừa khô…
Họ lấy làm lạ hỏi:
- Này, con đang cầm dao nghịch gì thế? Không khéo đứt tay bây giờ!
Đứa bé hồn nhiên bảo:
- Dạ con đang bắt chước cha đẽo gọt hai cái gáo dừa này thành hai cái chén, phòng khi sau này cha mẹ già yếu dọn cơm cho cha mẹ ăn, lỡ có đánh rơi cũng không bị bể cha ạ.
Hai vợ chồng nghe vậy thì điếng cả người, không ngờ con trai mình lại nói thế, nhưng không trách nó được, vì nó nói đúng quá.
Lòng hiếu thảo và tình thân chợt dâng đầy, vợ nhìn chồng, rồi chồng nhìn vợ, cả hai bật khóc, họ hối hận vì những sai lầm của mình đối với người cha già đáng kính, đã hy sinh trót một đời vì mình.

Thế rồi hai vợ chồng chạy vào trong phòng, quỳ sụp dưới chân người cha mù lòa, vừa khóc vừa nói:
- Cha ơi, xin cha hãy tha lỗi cho chúng con, cha đã hy sinh một đời vì con, thế mà chúng con đã ngu ngốc khi đối xử với cha như vậy…
- Dù muôn nghìn chén vàng chén bạc cũng không sánh nổi lòng cha đối với chúng con. Vợ chồng con nguyện khắc dạ ghi tâm và xin cha tha cho tội bất kính này.
Từ đó vợ chồng người con đối xử với cha rất là hiếu thảo cho tới ngày ông qua đời. Chuyện đứa bé gọt cái chén gáo dừa kia đã thức tỉnh lòng ta đối với đấng sinh thành, vì công ơn ấy cao tựa Thái Sơn, biết lấy gì bù lại cho xứng được?!
HẾT

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

THÔNG BÁO CHUYỂN NHÀ


"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", thoát dịch là ở chùa có một ông sư, bán chùa cũng còn một ông sư. Cái bờ-lóc này cũng thế. Suốt cuộc đời nó luôn là "cô đơn giữa chốn đông người" như cái ngày mà nó mới hình thành.

Thật ra thì không muốn chuyển nhà sang nơi đô thị đâu, nhưng vì vùng đất nghèo xa xôi, hẻo lánh quá, nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ không lặn lội đến được, cũng như là đôi khi lại gặp mưa gió, bão bùng nên không thể quánh dây thép đến kiếm được, sự tiếp cận với nhà của chúng tôi còn khó khăn hơn đi cầu tre lắt lẻo nữa.

Cho nên, nay chúng tôi quyết định thông báo đến toàn thể quý vị (không biết có ai không, nhưng nói cho hoành tờ-ráng vậy) là chúng tôi sẽ chuyển sang nhà mới. Mặt tiền khu đô thị, gần trường học, gần chùa chiền, đặc biệt là có một khuôn mặt rất dễ nhận diện, địa chỉ là: 
Định Phúc - 24 hours to live

Trong thời gian qua, chúng tôi có thấy một số người nặc danh (biết tên nhưng không muốn nói) sanh rình rập, canh me để đem bài về nhà của họ mà up, mà post. Việc tuyên truyền, phổ biến của chúng tôi không cần bản quyền, độc quyền gì cả, càng nhiều người biết, nhiều người xem thì càng tốt. Nhưng chỉ xin một điều, khi có lỡ tay đem về nhà mình thì vui lòng cũng lỡ tay để tên tác giả cũng như là nguồn "cung cấp" dùm. Chỉ mong như thế, không phải muốn nổi danh, có tên có tuổi gì với non sông gấm vóc hay là xưng bá thiên hạ gì cả. 

Ngoài ra, khi chuyển sang nhà mới, blog này vẫn được hoạt động bình thường chứ không hề bị bỏ rơi vào lãnh cung. Xin mời lâu lâu ghé qua thăm em nó chút để em nó không bị tủi thân vì không được bằng chị bằng em.

Xin cảm ơn quý vị đã quan tâm và ghé thăm trang nhà. Chúc tất cả quý vị thật nhiều sức khỏe, luôn an lạc và hạnh phúc.

Mong thay!

Định Phúc

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Viết cho tháng 9


Tháng 9 trôi qua một cách nhanh đến chóng mặt, cho nên mới gọi là nhanh chóng. Bốn tháng học trôi qua thì bây giờ đang đối diện với kỳ thi học kỳ đầy mệt mỏi và chưa biết sẽ đi về đâu.
Nhớ lại ngày xưa, khi còn nhỏ, cứ hễ mỗi lần sắp đến thi là lại bệnh sốt, cảm, sổ mũi, mỗi lần như thế đều có Ngoại lo từng chút từng chút...
Khi tôi đau, lòng Ngoại nào yên ổn Từng viên thuốc, chén cháo Ngoại đều lo Đêm khuya dài, Ngoại nào nhắm được mắt Lo cho tôi, không ngại tấm thân già.
(Trích NGOẠI TÔI)

Và bao năm rồi vẫn thế, ta vẫn cứ bệnh; nhưng những lần này chỉ có mình ên ta thôi. Cũng chẳng dám nói ai nghe, sợ lọt tin về Việt Nam thì Ngoại lại lo lắng. Những ngày nằm ở Ký túc xá một mình, ngẫm lại những gì mình trải qua, lăn lóc với cuộc sống, trải nghiệm với cuộc đời cũng giúp cho ta có một sự chai lỳ nhẹ.
Cảm ơn nhé cuộc đời là dâu bể Nuôi lớn ta thành một kẻ vô tri Những gian truân khổ nhọc có sá gì Thân tứ đại vẫn gan lì sỏi đá.
(Trích CẢM ƠN)

Vậy là 9 tháng trôi qua, cũng là 9 năm đã trôi qua của cuộc sống kẻ du phương đây đó. Bao nhiêu nơi đã đi qua, bao nhiêu mùa lá vàng, bao nhiêu người đã gặp gỡ và chia xa...
Và đón chào một tuần mới, một tháng 10 tròn trịa với thật nhiều ý nghĩa. Ngày xưa ta bé, ta không có ngu, ta thích nhất là tháng 10 vì tháng 10 là tháng mà ta được chui ra đời, hiện hữu trên cõi đời này.
Cảm ơn mẹ cho con dòng sữa mát Nuôi đời con trong bát ngát tình thương Cho con lớn thấu hiểu nỗi vô thường Tìm lẽ đạo báo ân dường suối bể.
(Trích CẢM ƠN)

Hơn thế, tháng 10 là tháng đặc biệt nhất với ta, vì nó quánh dấu cuộc đời ta được bước sang một trang mới trong tiểu sử của một kẻ vai trần.
Số 10 thật đẹp và tháng 10 lại càng đẹp hơn với lá thu vàng khắp một khu rừng, với những cánh đồng hoa làm nôn nao biết bao người, với những cánh đồng chín vàng hòa quyện với khói chiều lan tỏa làm buồn muốn thúi dzuột... 
Xách ba-lô lên mà đón chào tháng 10 nào!

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Phụ nữ là những con cọp - WOMEN ARE TIGERS


Một ngày, vị Sư già của một tu viện dẫn chú tiểu vào trong làng để làm những việc cần. Chú tiểu được sống trong tu viện từ nhỏ và rất ít khi chú được vào trong làng. Trước khi họ đi, vị Sư già dặn dò chú tiểu. "Coi chừng những con cọp. Có rất nhiều con cọp ăn thịt người nam ở trong làng. Ta sẽ chỉ cho con khi những con cọp đó xuất hiện."
Và họ đi qua một con đường làng đông đảo những người, chú tiểu thấy nhiều người phụ nữ đẹp đẽ khi đi ngang qua. Mỗi lần họ đi ngang qua người phụ nữ đẹp đẽ, vị Sư già nói với chú tiểu, "cẩn thận, cô ta là con cọp ăn thịt người nam."
Sau khi họ trở về tu viện tối hôm đó, hai người cùng ăn bữa cơm tối. Vị Sư già hỏi chú tiểu, "Cái gi` làm con thích nhất ở trong làng?"
Chú tiểu trả lời, "Những con cọp ăn thịt người đàn ông." 
 
One day, an old monk (bhikshus) in a monastery took an young monk (or sramaneras) to town to do some business. The young monk grew up in the monastery all his life and seldom ventured out on his own. Before they went, the old monk told him, "Beware of tigers. There are a lot of man-eating tigers in town. I will show you when they are present."
As they wonder through the busy street of the metropolitan, the young monk noticed that there are a lot of attractive women passing by. Every time, they came pass an attractive woman, the old monk would tell him, "Be ware. She is a man-eating tiger."
After they return to the monastery that night, the two had supper together. The old monk asked the young monk, "What do you like best in town?"
The young monk replied, "man-eating tigers."

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Thu buồn...


Mùa thu lại đến. Trăng lại lên cao. Những hộp bánh trao nhau. Những chiếc đèn lồng tỏa sáng khắp phố. Mọi người vui đón Trung thu sao chẳng ai đoái hoài gì đến người xa quê hết. Thèm miếng bánh Trung thu mà cũng chẳng có để mà xem thì nói gì mà phá làng với phá cỗ.
Nhớ năm xưa, tại ngôi trường Phật học chốn làng quê, mùa Trung thu thật vui. Nào là làm lồng đèn, nào là tổ chức đốt đèn, đãi nước thay bánh, viết thơ, nói chuyện... đủ thứ trên "chùa". Còn bây giờ, nhìn lại, chỉ còn mình ta với ta. Ra trường hết, mỗi người một ngả, mỗi người một chí hướng tha hồ tung bay, chẳng hề vướng bận chi nhau.
Bánh thì có thể xem được, đèn lồng thì bán thiếu gì ngoài kia, trăng thì mùa nào cũng có, chỉ có duy nhất là bạn bè ngày xưa giờ mất hết rồi. Người ra đi, kẻ ở lại, người trả áo, kẻ cất bước lên đường... 9 năm, mươi năm... và bao năm nữa, bao mùa trung thu lặng lẽ đốt đèn và đi ngủ để nhớ về một thuở xa xưa ở nơi xa xăm tại một chốn xa xôi.
Mưa thì cứ mưa, mưa nó vốn dĩ là hiện thân của những nỗi buồn và gợi nhớ những kỷ niệm. Hết mưa thì thôi, hết trăng thì thôi nhưng làm sao để hết buồn hết nhớ???
Ta cứ mãi lang thang trong cái chốn non nước này đến bao giờ nhỉ?
Thôi thì "đói ăn khát uống cứ tùy duyên", cứ để nó trôi theo dòng chảy tự nhiên. Hãy để mưa cuốn trôi đi mọi thứ, sau cơn mưa, hẳn nhiên trời sẽ mát và mình lại lên đường tiếp tục cuộc tử sinh.

Bangkok, Trăng thu tháng 8/2013.

Cho đi là cách giao tiếp tốt nhất - การให้ คือการสื่อสารที่ดีที่สุด

Cho đi là cách giao tiếp tốt nhất - การให้ คือการสื่อสารที่ดีที่สุด
Một cậu bé đang bị mắng chửi giữa phố vì trót dại ăn cắp thuốc ở một cửa hàng. Bà chủ đang giằng lại và buông lời xối xả. Một người đàn ông động lòng thương liền đến hỏi chuyện. Khi biết rằng cậu bé  ăn trộm thuốc về cho mẹ, người đàn ông trả tiền cho bà chủ quán rồi cho cậu bé thuốc, bảo con gái mình mang cho ít thức ăn.
30 năm sau, người đàn ông vẫn là chủ quán hàng cùng cô con gái lớn. Một ngày, ông bị đột quỵ và phải nhập viện. Bệnh tình của ông rất nặng và muốn chạy chữa phải mất số tiền rất lớn. Cô con gái buộc phải tính đến chuyện bán nhà. Vào lúc này,điều kỳ diệu đã xảy ra. Cậu bé "ăn trộm" ngày nào giờ đã trở thành một vị bác sỹ và trùng hợp tiếp nhận ca cấp cứu này.
Với tất cả tấm lòng lương y, cậu thanh niên trẻ đã dốc sức nghiên cứu, chữa trị cho ân nhân xưa mà không cần bất kỳ đồng viện phí nào, bởi "Viện phí ngày hôm nay đã được trả từ cách đây 30 năm".

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

“ANH VỀ MÀ XEM......., MẸ ANH PHIỀN THẬT..!”




- Anh về ngay đi, em hết chịu nổi rồi, mẹ anh phiền thật.
- Uhm, mẹ anh phiền thật, bây giờ anh đang có cuộc họp quan trọng, tối về anh sẽ giải quyết nha em.

Tiếng đầu dây bên kia dập máy nghe có vẻ rất tức tối, anh buông thõng người ra sau ghế, ở bên kia cô nhìn ra phía cửa như đang cố nuốt trôi một cái gì đó vào mình.
- Anh nhìn đi, đó, đây này, hôm nay em sắp, ngày mai em xếp, cứ một người dọn, một người lại bày ra như vậy, ai mà chịu nổi. Em sắp điên rồi đây. Cô vò đầu trong 1 trạng thái vô cùng tức giận, anh lại gần cô, lấy tay xoa xoa 2 bờ vai gầy gầy, cô hất chúng ra.
- Em vào đây – Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay cô kéo vào phòng, khép hờ cửa, anh lấy xuống 1 chiếc hộp được đặt trên nóc tủ, lấy tay phủi nhẹ, anh nhìn cô mỉm cười.
- Mẹ phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé, còn bây giờ để anh cho em biết mẹ chúng ta phiền đến mức nào.
Anh mở chiếc hộp ra, bên trong là 1 xấp hình, anh lấy ra 1 tấm đã cũ, nhưng chẳng hề dính tí bụi nào, cô tò mò nhìn vào tấm ảnh.
- Em thấy không, đây là tấm hình mà Dì anh đã chụp lúc anh sinh ra, Dì kể vì mẹ yếu nên sinh lâu lắm, mà sinh lâu chắc là đau lâu em nhỉ, mà mẹ phiền thật, cứ la hét ầm ĩ cả lên, ai mà chẳng sinh. Dì còn nói, mẹ yếu lắm, nếu cứ cố sinh thì sẽ nguy hiểm cho người mẹ, bác sĩ đã nói như vậy rồi vậy mà mẹ vẫn cố cãi ” Không, con tôi phải ra đời, tôi phải sinh”, mẹ anh phiền thật đó.
Cô nhìn tấm hình, bàn tay cô nhẹ bỗng, rồi cô nhìn anh, trong mắt anh chứa 1 điều gì đó rất lạ. Anh cẩn thận bỏ tấm hình đó qua 1 bên, lấy 1 tấm khác cho cô xem.
- Em nhìn nè, đây là bức ảnh chụp lần đầu tiên anh bú mẹ, anh chẳng thấy ai phiền như mẹ cả. Bà nội, bà ngoại nói cả rồi, mẹ yếu, không đủ sữa để cho anh, uống sữa bình đi, ở đó mà dưỡng sức, nhưng 1, 2 cứ khư khư giữ anh vào lòng ” Không, con con nhẹ cân, phải bú sữa mẹ mới tốt”. Ai nói gì cũng cãi em nhỉ, nếu không anh được uống sữa bình rồi, sữa bình phải ngon hơn chứ, mẹ anh phiền thật.
Bàn tay cô run run, cô thấy ánh mắt của người mẹ trong bức ảnh ánh lên vẻ rất hạnh phúc, 2 bàn tay cô ta cứ giữ chặt đứa bé. Cô nhìn anh không nói gì cả.
- Còn nữa đây này – Anh lại lôi ra 1 tấm khác nhìn vào đó.
- Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, con nít hơn 1 năm ai chẳng chập chững biết đi, mẹ cứ làm như chỉ có con mẹ mới làm được điều đó không bằng. Ba kể mẹ cứ gặp ai là cũng hí hởn khoe ” Thằng cu Tin nhà tôi đi được rồi, nó biết đi rồi đó “. Bộ mẹ không thấy phiền hay sao em nhỉ? – Bờ môi cô như muốn nói một cái gì đó nhưng cổ họng thì ứ nghẹn lại, bức ảnh đứa trẻ con chập chững đi về phía mẹ trong tấm hình, cô nhìn mãi.Ba còn kể, từ ngày anh bắt đầu bi bô tập nói rồi gọi được tiếng mẹ là nguyên những ngày sau là một chuỗi điệp khúc ” Cu Tin gọi mẹ đi, gọi mẹ đi cu Tin”, mẹ phiền quá đi mẹ à, anh mỉm cười xoa nhẹ vào bức ảnh, mắt anh đang long lanh thì phải.
- Đây nữa, đây nữa này – Anh lôi ra nguyên 1 xấp, nhiều lắm, rất nhiều ảnh- Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, chụp làm gì mà lắm ảnh vậy không biết, lần đầu tiên anh vào mẫu giáo, có phiếu bé ngoan, rồi tiểu học, trung học, nhận bằng khen, em coi đi, đủ trò trên đời, coi hình của anh có mà đến tết mới xong, anh phì cười, ” mẹ anh phiền nhỉ “?
Cô nhìn anh, anh không cười nữa, anh cầm 1 tấm hình lên nhìn vào đó rất lâu, cô thấy nó, 1 tấm hình rất đạp, anh rất đẹp trong bộ áo tốt nghiệp cử nhân, anh lúc đó trông điển trai quá, cao ráo, nhưng…

- Em có thấy không? Tóc mẹ anh đó, rối em nhỉ ? Còn áo quần nữa này, cũ mèm…- Cô nghe thấy giọng anh trở nên khác đi, không đều đều như lúc ban đầu nữa, đứt quãng. Cô nắm lấy tay anh.
- Năm 15 tuổi, ba bỏ mẹ con anh lại, rồi lúc đó, mọi thứ trong nhà trở nên không có điểm tựa, anh đi học, mẹ bắt anh phải học…Em không biết đâu, anh xin nghỉ nhưng mẹ không cho, phiền như vậy chứ. Mẹ cứ sáng sớm đi phụ quán cơm cho người ta, trưa ăn 1 chén cơm thừa trong quán để dư tiền cho anh học thêm ngoại ngữ, rồi chiều đến chạy đi giặt đồ cho những bà mẹ không phiền khác, để họ đi mua sắm, cà phê, giải trí…- Giọng anh lạc hẳn – Còn nữa em ạ, tối đến mẹ lại tiếp tục đi làm lao công đường phố, sáng sớm mới về chợp mắt được 1 tí thôi, vậy đó…Em thấy mẹ anh khỏe không?
” Tách”, 1 giọt nước rơi xuống trên tấm hình, mắt cô cũng nhòe đi, khác thật, 1 bà mẹ trẻ với gương mặt xinh đẹp lúc đứa con mới bi bô tập nói, và cũng với gương mặt phúc hậu đó nhưng giờ làn da đã nhăn đi, khuôn mặt gầy hẳn khi đứng cạnh cậu con trai lúc chuẩn bị ra trường.
- Anh à – Bàn tay cô nắm lấy bàn tay run run của anh.
- Em có thấy tay mẹ rất yếu không, anh chẳng bao giờ kể em nghe nhỉ. Khi 5 tuổi, anh đùa nghịch chạy nhảy lung tung, lúc đuổi bắt cùng cô nhóc hàng xóm anh đã trượt chân ngã từ cầu thang xuống. Lúc đó, anh chẳng thấy đau một chút nào cả, chỉ nghe một tiếng kêu rất thân quen, em có đoán được không, anh đang nằm trên 1 thân thể rất quen…mẹ anh đó. – Cô sững người lại, nước mắt cô trào ra, rơi xuống ướt đẫm tay anh.
- Em à, mẹ anh phiền vậy đó, phiền từ khi anh chuẩn bị lọt lòng cho đến khi anh gần đón đứa con đầu tiên của mình, chưa hết đâu, mẹ sẽ còn phiền cả đời em ạ, bây giờ lớn rồi mẹ vẫn cứ lẽo đẽo theo anh dặn đủ thứ em không thấy sao, cơm phải ăn 3 chén, đi xe phải chậm thôi, đừng có mà thức khuya quá. Mẹ anh phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé.
” Anh “, cô ôm chặt lấy anh, cô òa khóc nức nở, ” em xin lỗi “, anh ôm lấy cô vỗ về, vỗ về như ngày xưa anh vẫn thường được làm như vậy.
” Choang “- Anh và cô chạy nhanh xuống bếp.
- Mẹ xin lỗi, mẹ nghe con thèm chè hạt sen nên mẹ đi nấu, nhưng…Giọng mẹ run run không dám nhìn về phía trước, cúi người nhặt những mảnh vỡ vừa rơi.
- Mẹ à – Cô chạy đến nắm lấy bàn tay xương xương của mẹ – Từ nay mẹ đừng phiền nữa nhé, để con phiền mẹ cho – Cô ôm chặt mẹ, nước mắt thấm đẫm vai áo mẹ, mẹ nhìn anh, anh nhìn cô trong lòng của mẹ.
” Mẹ đã không sinh lầm con và con cũng đã không chọn nhầm dâu cho mẹ, phải không ạ?”

(sưu tầm)


Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

CẦU TRE LẮT LẺO (Toại Khanh)



Để ngắn gọn, tôi đã thay đổi tựa đề bài viết. Bản thân người viết bài này chưa hề có một mảnh bằng đại học nào hết. Một ngày ngẫm chuyện chung quanh, tôi muốn viết ra chút tâm tư cho nhẹ lòng và điểm tựa cho bài viết cũng chỉ là một vài tổ chức học Phật cũng không thuộc đại học.
Đó là lớp Hán cổ ở chùa Già Lam (Go Vap) mấy năm đầu thập niên 90 do quý thầy Nguyên Hồng, Thái Siêu khởi xướng và bên cạnh đó là mấy lớp hướng dẫn dịch kinh Hán Văn ở Đại Tòng Lâm do thầy Trí Không, sau này còn thêm một chương trình tương tự do HT Minh Cảnh tổ chức (gọi là nhóm phiên dịch Huệ Quang thì phải). Hiện hòa thượng còn đang thông báo chiêu sinh khóa mới tại VN. Cả ba chương trình này đã đào tạo hàng trăm tăng ni cư sĩ thực học và họ cũng đã chung sức nhau thực hiện hàng chục công trình phiên dịch đồ sộ mà đến cả giáo hội PG trung ương của nhà nước, gồm cả Viện Nghiên Cứu Phật Học và cả ba trường Cao Cấp Phật Học ở ba miền cũng không làm nổi.
Cả ba lớp học tự túc vừa kể trên đều không thuộc một trường đại học nào hết, nhưng hiệu quả theo tôi thì bao nhiêu khóa Cao Cấp Phật Học sau 1975 không sao bì được.
Trong bài viết này, tôi muốn thử đưa ra vỏn vẹn hai tiêu đề: Tăng ni cư sĩ phải học gì, và học để làm gì.

I. HỌC GÌ
Trước hết, dù tăng ni cư sĩ thuộc hệ phái nào và đang tu học trong hay ngoài nước nói chung, mất bốn năm ở các trường Phật Học làm gì nếu người tốt nghiệp không có được ba thứ này:
A. Một hiểu biết căn bản về hai truyền thống Phật học Nam Tông và Bắc Phái qua tối thiểu vài ba bộ kinh luận tiêu biểu của hai bên (chẳng hạn Kim Cang, Duy Thức, Hoa Nghiêm, Trí Độ, Thanh Tịnh Đạo, Vô Ngại Giải Đạo, Thắng Pháp Tập Yếu Luận). Điều kỳ lạ là Phật giáo VN đã tỏ ra thờ ơ rồi chậm bước trong việc phiên dịch hai bộ luận Câu Xá của ngài Thế Thân (Vasubandhu) và Phát Trí của ngài Ca Chiên Diên Tử (Katyayaniputra) vốn đáng được xem là những chiếc cầu nối tuyệt đối quan trọng để Nam Tông Bắc Truyền gần lại với nhau hơn. Hay là vì một lý do khó nói nào đó mà đến tận giờ những người có thẩm quyền vẫn để mặc hai truyền thống này tai VN tiếp tục sâm thương vời vợi. Ta có thể không phải là học giả hay luận sư gì hết, nhưng nếu đã học xong mấy năm đại học Phật giáo (hoặc tương đương) thì một cách căn bản phải nói được điểm tinh yếu của các truyền thống PG lớn.

Không có được khả năng này, trộm nghĩ danh xưng tốt nghiệp đại học Phật Giáo là bất xứng.

B. Khả năng ngoại ngữ tối thiểu để tham cứu kinh điển Phật Giáo gồm ít nhất hai trong năm thứ tiếng Pali, Sanskrit, Hán, Nhật, Tây Tạng. Trong trường hợp tăng ni cư sĩ đang theo học ở các xứ PG Theravada thì còn phải thêm tiếng bản xứ, chìa khóa tối cần để mở cửa kho tàng kinh Phật ở đó. Riêng khả năng đọc hiểu Anh ngữ thì coi như bắt buộc, vì đại học Phật Giáo trên mặt hành chánh cũng được xem tương đương đại học bên ngoài. 

Tôi coi trọng kiến thức ngoại ngữ ở một người chỉ vì mấy lý do ai cũng biết. Kho tàng kiến thức của nhân loại đã, đang và sẽ được lưu trữ bằng các thứ tiếng khác nhau. Trông đợi các bản dịch rồi thỏa mãn với chúng đều là chuyện không nên. Đọc truyện Kiều phải qua bản tiếng Việt mới đúng mức, và một người ngoại quốc ngồi chờ có bản dịch truyện Kiều bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình thì biết đến kiếp nào, đã vậy đọc bản dịch theo tôi là uống cà phè nước nhì, cái mùi vị nguyên chất không còn nữa. Thứ đến, đọc hiểu thêm một ngôn ngữ là ta làm quen được một nền văn hóa, biết thêm một cách nhận thức. Thế giới bao la gì cũng có, mà ta chỉ biết quẩn quanh với cái mình có ( thường cạn và hẹp hơn là sâu với rộng) thì hoang phí quá. 

Thử nghĩ nếu không có kinh Phật từ Ấn Độ thì loài người hôm nay làm sao có thể tưởng tượng ra được một kho tàng mình triết bất khả tư nghị đến vậy, và đặc biệt là kho tàng ấy đã được một phần nhân loại biết đến trên mặt đất này từ hơn hai ngàn năm trước. Và đối với người học Phật mà nói, ai cũng biết rằng Phật giáo mỗi xứ đều có những điểm độc đáo riêng tư bên cạnh cái chung nhất là Tam Tạng bằng tiếng Pali. Không đọc hiểu được các thứ tiếng Miến, Tích, Thái, Khmer thì coi như ta đã bỏ qua mấy khu rừng kinh văn quan trọng. Chuyện đó còn đau hơn sự thiệt thòi của một người mù điếc bẩm sinh trước nền điện ảnh thế giới.

Nếu chương trình trong bốn năm đầu ở đại học Phật giáo tập trung một chút, bớt hẳn các môn không thật sự cần thiết cho Phật hoc thì việc người tốt nghiệp đọc hiểu được vài ba cổ ngữ vừa kể trên đây là chuyện bình thường. Tôi nói những môn không thật sự cần thiết là ám chỉ những môn kiểu kinh tế, xã hội, chính trị gì đó mà tăng ni sinh có thể trau dồi sau này khi thấy cần. Điều tối cần của một người học Phật trong mấy năm đầu tu học ở học viện, theo tôi, là ba kiến thức vừa kể trên (Phật học, ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ). Thà ít mà đủ sâu để xài được, còn hơn một mớ hổ lốn gì cũng có mà chỉ là đồ đồng nát (ve chai). Tôi biết nhiều người đọc đến đây sẽ mắng tôi không tiếc lời, chẳng hạn đồ dốt mà bày đặt dạy đời, nhưng tôi van các cha làm ơn ngó lại chương trình các khóa Cao Cấp Phật Học gì ấy từ năm 1981 đến nay, nếu tăng sinh không tự trau dồi thêm, không có vốn liếng sẵn, thì hàng chục môn trong mỗi khóa đó đã đem lại được gì cho họ khi môn nào cũng được học kiểu cưỡi ngựa xem hoa.

Nói vậy hoàn toàn không có nghĩa là tôi xem nhẹ kiến thức bách khoa ở một người. Biết thêm một chuyện, chỉ có tốt chứ không xấu. Dốt một chuyện chỉ có xấu chứ không tốt. Ai từng cầm bút hay micro thì biết, kiến thức càng rộng thì khả năng xoay sở càng thoải mái, càng hiệu quả hơn. Kiến thức hẹp quá, dễ mắc thành kiến và trên hết là không đủ đồ xài. Tôi không có ý kêu gọi ai trở thành một người kiểu vậy. Những trình bày nãy giờ của tôi chỉ có một ý nghĩa duy nhất là trong mấy năm đầu học tập, tăng ni cư sĩ nên theo cách sâu trước rộng sau sẽ tốt hơn là ngược lại. Nói vậy vì tôi ngại mấy điều là nếu chọn cách học rộng trước sâu sau, chỉ cần có chút danh lợi hay bận rộn gì đó thì người ta sẽ không còn hứng thú để đào sâu những cái mình chỉ mới biết đại khái. Thứ nữa, tăng ni có chiều sâu sẽ an toàn hơn và cuối cùng điều kiện tâm lý của một người từ sâu đi qua rộng luôn dễ dàng hơn là từ chỗ rộng tìm đến chỗ sâu. Tâm lý con người kỳ lạ vậy. Trong giao tiếp, tôi nhận thấy những người có chiều sâu thường dễ nhận ra chỗ thiếu của mình hơn là người bắt đầu từ chiều rộng, có khuynh hướng tự cho mình cái gì cũng biết !

C. Khả năng ngôn ngữ đủ để trao truyền kiến thức mình có cho người khác một cách thoải mái. Ngôn ngữ ở đây trước hết là tiếng mẹ đẻ, thêm được ngoại ngữ càng tốt, và bao gồm cả hai kỹ năng nói viết. Khả năng đọc hiểu và giao tiếp căn bản đã nói ở phần B.
Anh giỏi chuyên môn, có một hay nhiều sở trường, nhưng không thể chia sẻ cho người khác ( đồng bào hay người xứ khác) bằng cách thức nào đó thì rõ ràng sở học của anh đã mất đi một nửa ý nghĩa. Ngôn ngữ anh dùng phải đủ giúp người ta hiểu điều anh muốn nói, mà nếu được, cũng nên đủ trơn mềm trong sáng để trình bày những vấn đề khô cứng, khó nói.
Trộm nghĩ, một chương trình đào tạo tốt không chỉ tạo ra khả năng hiểu biết mà còn là khả năng chia sẻ. Anh không thể chỉ là một học giả uyên bác chỉ biết tra tra lật lật cho riêng mình, anh còn phải là một suối nguồn lợi tha.

Tôi nghĩ người Việt không tệ, nhưng có lẽ do thời cuộc hoặc bối cảnh văn hoá xã hội sao đó, nhu cầu học đạo của Phật tử mình khá đơn giản. Có thể dốc tiền cất chùa, nhưng không hứng thú trong việc thúc đẩy học thuật của Phật giáo. Có đủ bạo dạn để nói xúc phạm người khác, nhưng không đủ gan để tham vấn cặn kẻ khi học đạo với tăng ni. Lý do chỉ đơn giản là ngại hỏi kỹ quá lỡ các vị không biết thì kỳ, hoặc sợ bị la mắng là vớ vẩn nhiều chuyện. Hình như không nên thế. Cứ can đảm nhưng lịch sự, lễ phép hỏi lại chỗ tồn nghi. Chẳng hạn, xin hỏi con có thể đọc thêm vấn đề này ở đâu.

Đại khái thế. Điều tối kỵ trong Phật pháp nói riêng và học thuật trên đời nói chung, là nhắm mắt tin thầy. Sau vài thế hệ cuồng tín kiểu đó, cái tinh hoa nguyên thủy chỉ còn là tấm ảnh không hồn. Đừng sợ bị chê dốt mà không dám hỏi, đừng để mình bị lòng quý kính thái quá chặn mất cơ hội tìm hiểu.
Khi cư sĩ có thái độ học hỏi nghiêm túc kiểu đó, tăng ni tự dưng cũng phải nghĩ đến việc quay về trau dồi ngon lành hơn. Thảm nhất là trò học qua loa, thầy dạy sơ sài, kẻ cầu học thiết tha cẩn trọng không biết tìm thầy bạn ở đâu. Cái đó mới là mạt pháp.

II. HỌC ĐỂ LÀM GÌ

Có không dưới 1001 câu trả lời trong trường hợp này. Ở đây người viết chỉ xin hai gạch đầu dòng thôi:

A. Ta không thể là một người sống giữa đời mà không biết tí gì về thế giới quanh mình. Tăng ni cư sĩ cũng không thể tu Phật theo cách má tin thì con tin, ai rủ thì theo. Vậy mục đích đầu tiên là ta học cho mình.
Cho mình ở đây không đơn giản là để mình có được một số vốn kiến thức kiểu "biết thì tốt", mà trên hết, ta dùng cái học trường lớp để xác định con đường mình phải đi, cách mình phải hiểu Phật Pháp, một cách xác định của riêng mình, không phải vay mượn từ ai khác. Thậm chí mang danh tiến sĩ mà không có nổi một nhận thức độc lập thì hình như vẫn còn có chỗ bất cập, bất xứng. Phải có chủ kiến trên nền tảng chánh kiến. Nói kiểu trong nước là kế thừa mà có phê phán.

Ta không thể nói thầy tôi dạy vậy thì tôi tin vậy. Bởi nếu ta có hơn hai ông thầy, mỗi vị nói một cách thì ta phải tính sao đây chứ. Vậy rõ ràng việc học đầu tiên là đem cái biết của người về gặm nhấm với riêng mình để sau cùng chọn lấy cái mình thấy là đúng, là thích hợp. Đừng bao giờ vì sợ chống trái với ông thầy rồi không dám động não một cách độc lập. Theo tôi hiểu, và theo kinh Kalamasutta, Phật không dạy ta thờ thầy kiểu đó.
Hôm nay sang Miến Điện giữa lúc đất nước này đang từng ngày thay đổi với một tốc độ đáng nể, tôi vẫn có chút khó chịu khi thấy kiểu Niệm Xứ Phồng Xẹp của ngài Mahasi vẫn được tôn thờ một cách cẩn cẩn như một truyền thống lớn nhất. 

Cạnh đó, lý tưởng và công trạng của ngài Vicittasara đối với nền học thuật của Phật giáo Miến Điện đúng là không thể phủ nhận, nhưng kiểu học cổ hủ là cái gì cũng phải đọc thuộc lòng (oral) như trẻ con tiểu học cứ tiếp tục được giữ lại ở đây một phần lớn cũng là do thái độ kế thừa tinh thần của ngài ở những người hậu học trung thành. Họ làm như đã quên rằng nếu nay vẫn còn sống thì Ngài đã trên trăm tuổi rồi và trong cách nghĩ của Ngài có nhiều thứ đã được thừa tiếp từ mấy trăm năm nay ở một xứ sở xa khuất như Miến Điện.

Một cái giá phải trả của Phật giáo Thái Lan sau này chính là thái độ theo tổ quên Phật của Phật tử xứ này. Ai tìm hiểu ít nhiều về trung tâm Dhammakaya ở Thái chắc chắn sẽ hết hồn. Cơ sở to rộng như một phi trường, lượng người ủng hộ không dưới số triệu, khả năng tài chánh gần như vô hạn, muốn là có, và uy tín đối với chính phủ giống hệt như người nhà với nhau. Nhưng pháp môn chủ yếu của Dhammakaya là gì ? Lửng lơ giữa các truyền thống và Chỉ hay Quán có trời mà biết. Vậy mà người theo cứ đông như kiến cỏ, quân Nguyên gì đó chỉ là chuyện nhỏ. Các truyền thống một thời lẫy lừng như của ngài Achahn Chah , Achahn Neab, Achahn Asabha, thậm chí thần tượng của tuổi trẻ trí thức Thái Lan là ngài Buddhadasa cũng không sao có nổi một ảnh hưởng ghê gớm cỡ đó.
Và người học đạo trước hết phải nhắm đến mục đích không để mình trở thành một nô lệ hay chuột bạch cho bất cứ ai.

B. Học để giúp người. 
Một người chịu đọc kinh Phật một cách đàng hoàng, dù có là Phật tử hay không, cũng phải nhận rằng Phật Giáo là một suối nguồn minh triết của toàn nhân loại. Không biết đến lời Phật rõ ràng là thiệt thòi lớn của một người trên hành tinh này. Ai từng đọc qua các kinh Koran của Hồi giáo, Tân-Cựu Ước của Cơ Đốc Giáo, Talmud của Do Thái Giáo, Phệ Đà của Ấn Giáo, Đạo Tạng của Lão Giáo,...rồi làm một so sánh, chắc chắn cũng đều phải thấy như vậy. Và ai đã rao giảng trao truyền dòng chảy minh triết đó cho người chưa biết đến PG ? Ai cũng biết đó chính là những người tu học theo PG và có khả năng chuyển tải truyền đạt.
Anh hiểu đúng, làm đúng, nhưng không biết làm sao để giúp tôi được như anh, thì cũng thiệt là đáng tức và thực là đáng tiếc lắm vậy.

Nhưng anh làm sao để trao truyền Phật Pháp cho tôi ? Nói kiểu gì thì cũng chỉ nằm gọn trong ba cách: Bằng chữ viết (dịch, soạn, sáng tác), bằng ngôn ngữ thuyết giảng và bằng chính cách anh sống cho tôi nhìn mà học theo. Có thể anh không có đủ cả ba khả năng này, nhưng một người tu Phật muốn sống lợi tha thì tối thiểu cũng phải có một trong ba. Và tôi tin chắc rằng nếu không sở hữu ít nhất ba thứ kiến thức mà tôi vừa nói đến ở phần Phải Học Gì thì anh rất khó lòng mà giúp được ai.

1. Bằng chữ viết.
Có nhiều động cơ để một người cầm bút. Anh có thể nói với tôi rằng anh chỉ cầm bút cho riêng anh, không nhắm đến ai, nhưng nếu anh là một người thực học và thực tài thì anh phải chịu trách nhiệm với bất cứ thứ gì anh viết, dịch, soạn. Đó lại cũng là một kiểu lợi tha. Thứ đến, có lúc ta cầm bút vì một công trình mà ta tâm đắc hơn là vì nghĩ đến như cầu của thiên hạ, dù đó là công trình được công bố rộng rãi. Trường hợp cuối cùng, người cầm bút lấy lợi ích của thiên hạ làm trọng để vùi đầu vào công trình. Sao cũng được, miễn là người cầm bút thì phải luôn có ý thức trách nhiệm và biết tôn trọng công trình của mình bằng cách thực hiện một cách cẩn trọng, yêu nghề. Được vậy coi như anh đã giúp đời nhiều lắm rồi vậy.

Xin nhớ giùm, lời nói có thể sẽ bay mất, nhưng chữ nghĩa thì mãi hoài nằm lại đó. Đâu ai còn dịp nghe lại giọng nói của các cụ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Ngô Tất Tố, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký,...Nhưng các công trình của họ đến tận giờ vẫn còn đầy ra đó, từ các thư viện quốc gia đến sưu tập cá nhân.

Làm gì thì làm, một công trình nào đi nữa cũng phải có đủ lý do để tồn tại lâu bền trong đời. Cóp nhặt bừa bãi, nông cạn, bất cẩn đều là những lý do khiến một công trình sớm bị đóng bụi. Chỉ với tâm huyết vẫn chưa đủ, còn phải chất lượng bên trong nó nữa. Thiếu hai điều kiện này, cầm bút chỉ hoài phí thời gian, trong khi ta đâu có nhiều thời gian để để chơi sang như vậy. Và thiên hạ cũng đâu dư hơi để đọc một tác phẩm/dịch phẩm kiểu đó.

Xưa giờ có ai thúc ép một bà mẹ phải sinh non trước ngày, cũng như đâu có ai cưỡng cầu một người cầm bút phải hối hả trình làng một công trình chưa được chín muồi. Đẻ non thường khó nuôi, èo uột thiếu sức rồi trách sao đi sớm. Một công trình chữ nghĩa cũng vậy.

2. Bằng ngôn từ thuyết giảng.
Tôi không phải một pháp sư hay giảng sư gì ráo, làm được ông sư là mừng rồi. Ở đây chỉ là chút lạm bàn, nhớ gì viết đó, theo kinh nghiệm của một anh bán ve chai bàn về cổ vật.
Dù ta may mắn có được một khả năng văn tài hay lợi khẩu ghê gớm đến mấy, trộm nghĩ cái quan trọng vẫn là trách nhiệm đối với thiên hạ. Viết cho hay, đọc đã đời rồi người ta vẫn không bỏ túi được cái gì. Nói cũng thế. Bay bướm hoa hoè cả giờ để rồi chính mình không thể rút gọn được một nội dung xài được. Cả hai trường hợp đều đáng trách, đáng tiếc.
Cái nguy hiểm nhất của một người là khả năng lôi cuốn thiên hạ cộng với tinh thần vô trách nhiệm. Ai cũng thích có kẻ ái mộ, nhưng không gì bậy bằng việc lấy đó làm động lực chính để nói năng, viết lách. Anh có biết nhiều người có thể vì nghe anh mà tan nhà nát cửa, tiêu tùng một đời không ? Đôi khi một dòng chữ hay một câu nói có thể giúp người ta đổi đời, thì ngược lại lắm lúc chúng cũng thừa sức khiến người ta hết đời, tàn đời. Xin nhớ lại giùm đã có biết bao vị đạo sư, giáo chủ, thầy bà gì đó người Việt ở hải ngoại đã một thời khuynh đảo tâm hồn cửa hàng ngàn người nhẹ dạ bằng máy pháp môn tự chế. Tội nghiệp người ta buông hết Phật pháp chánh thống để dồn hết tâm tư thời gian theo mình, đến lúc ngã ngửa ra mới hay thời gian qua đi cắm trại ở Phi Châu còn tốt hơn trăm lần.
Nếu sử dụng văn tài và khả năng lợi khẩu để tìm fan ủng hộ mà không chịu nghĩ đến lợi ích của người ta thì kể ra cũng quá tàn nhẫn vậy. Và trong chuyện này hình như chính người nghe hay độc giả cũng tự có một phần trách nhiệm. Ai bảo anh dễ bảo quá, ham vui quá, mới xui tôi muốn nói viết gì cũng được. Nếu anh biết phân biệt rõ cái mình thích và điều mình cần thì tôi đâu dám tung tẩy kiểu đó. Nói kiểu trong nước, có cầu mới có cung chứ. Trong bài này tôi muốn nhấn mạnh nguồn Cung, nhưng dĩ nhiên không thể bỏ qua phía Cầu. Đi nghe thuyết pháp mà cứ chăm bẳm những thơ ca, chuyện cười, truyện ma để ghi nhớ (dù nhiều khi người thuyết giảng chỉ nhắc phớt qua khi cần thiết), thì trách gì lần sau người ta cứ tiếp tục bổn cũ soạn lại. Lâu dần rồi thành lệ, pháp sư nào thuyết giảng chuẩn mực coi như hết đất sống và cư sĩ cũng không còn cơ hội được nghe những gì đúng là Pháp Nhũ Phật Thân. Cái loạn đi ra từ đấy !

Nói chân tình cho nhau nghe, việc thiên hạ chạy theo vẻ ngoài của chữ nghĩa ngôn từ buổi đầu thấy hay là thế, nhưng về lâu dài lành ít dữ nhiều. Nếu hôm nay họ theo ta vì những hoa lá cành vô bổ nào đó, thì mai kia họ cũng có thể chạy theo những ông thầy sặc sỡ hơn ta bây giờ nữa. Trong khi đó, nếu người nói Pháp chỉ nhằm vào hai tiêu điểm là nói đúng lời Phật và lợi ích thiết thực của người nghe thì cứ cho là đối thủ của ta mai này cũng phải là bậc thạc đức thạc học, không có chỗ cho kiểu thầy bà bá vơ chen vào. Phật Pháp nhờ vậy mà mạnh, chúng sinh được nhờ.

3. Bằng cách sống của mình.

Phải nhận rằng tôi hơi nhột khi viết đến chỗ này mà cứ nhớ đến kiểu sống của mình, nhưng hết đường lựa chọn rồi, phải xuống tay mà viết thôi. 

Phật giáo có ít nhất hai cách dạy người, ngôn giáo (bằng lời) và thân giáo (làm gương cho người ta bắt chước). Cả hai cách viết và nói đều nằm trong phần Ngôn giáo. Cách dạy đạo thứ hai là lấy chính kiểu sống của mình làm bài mẫu cho người ta học theo. Sở dĩ có cách dạy này là bởi vì nhiều khi người ta không thích nghề hay đọc điều mình nói hay viết, mà lại muốn ngó vào từng chi tiết nhỏ trong sinh hoạt của sư phụ. 

Trăm buổi giảng về giới luật, chánh niệm, tàm úy, từ tâm...lắm lúc xem ra không hiệu quả bằng một tuần lễ trò quan sát thầy. Sống động hơn, thuyết phục hơn, và đỡ tốn kém trí nhớ. Đặc biệt là niềm tin rằng thầy nói được và đã làm được. Nếu mình làm giống hệt thấy thì cũng sẽ an lạc ngon lành như thầy. Đó chính là thân giáo vậy.

Có một thời gian khá dài, tôi cứ nghĩ rằng hình thức trang nghiêm trước đám đông hình như là giả dối nếu khi về ở một mình mà lại không thu thúc được như vậy. Nhưng rồi vài vị huynh đệ đã vô tình giúp tôi bỏ đi cách nghĩ đó. Một vị, trong lúc tình cờ kể cho tôi nghe một chuyện vui trên đường, đã nói rằng dù thực ra mình không phải người nghiêm trì cẩn cẩn nhưng trước người lạ ít nhiều cũng nên giữ lại chút đại thể, cho mình và cho đoàn thể mà mình có mặt. Vị nầy dùng một ví dụ nghe không đẹp lắm, nhưng theo tôi thì hay tuyệt và xác đáng. Sư nghĩ xem, ai không biết mình có áo quần cần giặt và phơi, nhưng đem phơi bừa bãi ngoài cửa sổ chung cư kiểu như nhiều người Á Châu thì kỳ cục quá. Mình có bê bối cở nào đi nữa, đôi khi cũng phải kín đáo một tí, không cần thiết phải vạch áo cho người xem sẹo bên trong. Mình trang nghiêm không chỉ cho bản thân, mà còn cho đạo, cho thầy bạn, hệ phái nữa. Hay !

Câu chuyện thứ hai, xảy ra ở VN mấy chục năm rồi, mà tôi cứ nhớ hoài như một bài học bằng vàng. Một vị sư bạn của tôi, lớn tuổi hơn nhiều, đã kể cho tôi nghe một chuyện xảy ra với sư trong một lần đi xe bus ở Sài Gòn, kiểu xe Karosa của Tiệp Khắc có cửa đóng mở bằng hơi và được điều khiển từ chỗ ngồi của tài xế. Hôm đó, xe chật như nêm, sư bạn tôi lên được xe thì mới hay chỗ đứng cũng không còn nói gì chỗ ngồi. Sư đành chịu trận ngay cửa xe. Lát sau, cô nhân viên soát vé thấy có chỗ trống để dồn khách vào sâu bên trong, bèn hò hét: Ông thầy phải chừa chỗ cho người ta mở cửa xe chứ. Vị sư bạn tôi lúc đó nhỏ nhẹ: Tôi bị kẹt ngón tay trong cửa xe cô ơi. Cô nhân viên hết hồn nhìn lại: Trời ơi, sao thầy không chịu la lên ? Ông sư bạn tôi rán cười: Sắp đến trạm kế rồi, xe sẽ mở cửa. Cảm ơn cô.

Kể xong câu chuyện, sư cười với tôi: Đó cũng là hoằng pháp. Nhiều người khách lúc đó nhìn tôi rồi tôi nghe ai đó xầm xì. Người ta là ông thầy mà !

Tôi rất muốn gọi hai câu chuyện vừa kể là những bài học về Thân giáo. Mà muốn làm được chuyện này, tăng ni bắt buộc phải có một nội hàm thật vững, thật sâu và cũng xin nhớ giùm một chuyện: Muốn biết đường hành trì hay lợi tha thì phải học trước. Nhưng học cái gì, ta cần có mô hình giáo dục thế nào ? Xin trở lại đầu bài. 

Ký túc xá Mahachulalongkorn July/15/2013
Toại Khanh cẩn bút