Hiển thị các bài đăng có nhãn sưu tập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sưu tập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Wat Rong Khun - kỳ quan Phật giáo trắng tinh như cổ tích

Với màu trắng tinh khiết và lối kiến trúc độc đáo, ngôi chùa đã trở thành biểu tượng văn hóa của đất nước Phật giáo Thái Lan.

Nằm ở Ban Rong Khun, cách trung tâm thành phố Chiang Rai ở miền Bắc Thái Lan 13km về phía Nam, Wat Rong Khun hay Chùa Trắng là một công trình tôn giáo mới được xây dựng những năm gần đây.

Với màu trắng tinh khiết và lối kiến trúc độc đáo, ngôi chùa đã trở thành biểu tượng văn hóa của đất nước Phật giáo Thái Lan.


Người thiết kế ngôi chùa là Chalermchai Kositpipat - một họa sĩ kiêm kiến trúc sư Thái Lan, người đã ấp ủ ý nguyện xây dựng một ngôi chùa chỉ toàn màu trắng để biểu trưng cho sự thanh cao của đạo Phật.


 
Từ năm 1997, khi chọn được khu đất rộng chừng 3ha tại tỉnh Chiang Rai, Chalermchai đã bắt đầu hiện thực hóa ý tưởng của mình với công trình Wat Rong Khun.

Sau gần 2 thập niên xây dựng, Wat Rong Khun đã hiện ra trong một màu trắng tinh khôi, cùng sự pha trộn kỳ lạ của kiến trúc truyền thống và siêu thực, gây ấn tượng mạnh mẽ đối với những ai đến đây.

Bao quanh ngôi chính điện là các hồ cá nằm giữa thảm cỏ xanh, nơi đặt những tác phẩm điêu khắc được chính họa sĩ Chalermchai thiết kế.

Để đi đến gian chính điện của ngôi chùa, du khách sẽ phải đi qua một cây cầu đặc biệt, phía bên dưới là hàng trăm bàn tay đang vươn lên cao.

Những bàn tay này là tượng trưng cho vô số linh hồn trầm luân trong bể khổ đang khát khao được giải thoát. Cây cầu đi trên những bàn tay là biểu tượng của sự vượt qua kiếp luân hồi để đi tới cõi Niết bàn.

Về tổng thể, Wat Rong Khun giống như một công trình hiện ra từ thế giới cổ tích với những đường nét kiến trúc huyền ảo.

Mỗi bức tượng là một biểu tượng mang ý nghĩa tâm linh khác nhau của người Thái.

Các họa tiết trang trí trên mái ngôi chùa được tạo tác rất kỳ công.

Những tấm gương này tượng trưng cho trí tuệ của Đức Phật “sáng chói khắp thế giới và lan ra toàn vũ trụ”.

Không chỉ có vẻ ngoài ấn tượng, Wat Rong Khun còn gây bất ngờ với cách bài trí bên trong. Thay cho những hình ảnh Phật giáo truyền thống, các tác phẩm nghệ thuật đương đại đã được vẽ lên các vách tường. Những bức tranh này thể hiện nhiều biểu tượng văn hóa đại chúng như siêu nhân, phi thuyền… và cả những sự kiện quốc tế nóng bỏng như vụ khủng bố 11/9.

Những tác phẩm này như nhắc nhở người xem về tính chất vô thường, bất ổn và đầy khổ ải của thế giới, mà con người chỉ có thể vượt qua để đạt được hạnh phúc bằng con đường của Phật.

Đến thời điểm hiện tại, dù diện mạo của Wat Rong Khun đã định hình khá rõ nét nhưng ngôi chùa vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng và sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong nhiều năm tới.

Theo kế hoạch, khi hoàn thành, toàn thể công trình sẽ gồm 9 tòa nhà bao gồm chính điện, chùa, bảo tàng, hội trường tu viện, nơi giảng dạy, gian hàng cùng các phòng tiện nghi được xây dựng trên tổng diện tích 12.000m vuông.

Đây sẽ là một trung tâm thiền định, nơi mọi người có thể học tập và thực hành Phật giáo, thấm thía lời dạy của Đức Phật.

Dù chưa xây xong, Wat Rong Khun đã trở thành một ngôi chùa nổi tiếng thế giới, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tham quan mỗi năm.

Đây sẽ là điểm đến không thể bỏ qua đối với du khách ghé thăm đất nước Thái Lan.
Theo KIẾN THỨC

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Sự tích hoa đào.

hoa-dao-13

Ngày xưa, ở phiá đông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng.
Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy xa bay.
Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái.
Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong lọ,nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ, Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Sự tích hoa mai vàng.

20140121-105725.jpg

Ngày xưa có một cô gái tên Mai con một người thợ săn vốn rất gan dạ và can đảm. Năm lên mười bốn, cô gái đã được cha đào luyện trở thành một nữ hiệp sĩ vô cùng tài giỏi và tinh thông võ thuật.
Lúc ấy có một con yêu tinh đến quấy phá một làng nọ, dân làng treo giải ai giết được yêu tinh sẽ được thưởng trọng hậu. Thế là hai cha con lên đường giết yêu tinh. Sau khi giết được yêu tinh trở về, danh tiếng của hai cha con vang dội và truyền rao khắp nơi. Vài năm sau người cha lâm bệnh nặng và sức khỏe ngày một yếu đi. Còn cô con gái thì đã bước qua tuổi mười tám, sức khỏe càng tăng lên gấp bội, võ thuật càng ngày càng tinh thông.
Năm ấy yêu tinh rắn lại xuất hiện ở một vùng nọ và dân làng đến khẩn khoàn hai cha con đi giết yêu tinh. Trước khi con gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp và cô gái hứa ngày trở về sẽ mặc bộ đồ vàng ấy cho mẹ nhìn thấy cô từ xa. Sau đó hai cha con trèo non lội suối tìm cho ra yêu tinh để tiêu diệt nó. Người cha vì sức yếu nên không phụ giúp được gì để cô con gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhưng cuối cùng cô gái cũng giết được nó. Nhưng rủi thay, trước khi chết, con yêu rắn đã vùng dậy dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái.
Cảm thương trước tấm lòng hiệp nghĩa của cô gái cũng như sự khóc lóc van nài của người mẹ tội nghiệp nên ông Táo trong nhà đã khẩn khoản xin Ngọc Hoàng cho cô gái được sống lại và trở về với gia đình trong chín ngày.
Thế là từ đó, cô gái được trở về nhà trong hình hài nguyên vẹn với gia đình trong chín ngày (từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 6 Tết thì biến mất).
Về sau khi cha mẹ và người thân của cô gái mất hết, cô gái không trở về nhà nữa mà hóa thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái cô. Thấy cây hoa lạ mọc lên bên miếu và cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa ấy là cây hoa mai và chiết nhánh mang về trồng khắp nơi để trừ tà đuổi quỷ, mang lại may mắn cho gia đình mỗi độ xuân về, năm hết tết đến.
Mặc dù chỉ là câu chuyện cổ tích dân gian, nhưng một phần nào đó đã nói lên ước mơ và hoài bão thiết tha của người Việt xưa về một cuộc sống an lành, ấm no, hạnh phúc. Đó là những mơ ước, những hoài bão mà con người trong bất cứ thời đại nào cũng mong mỏi như vậy. Tuy bản thân cây đào hay cây mai chỉ là thực vật và trổ hoa theo mùa chứ không có gì linh thiêng cả, nhưng nếu đã là một di sản tinh thần của người Việt thì cũng nên được bảo tồn và giữ gìn cho các thế hệ sau vì đó là những nét văn hóa truyền thống đẹp và quý báu. Nó làm nên giá trị văn hóa Tết cổ truyền của dân tộc.

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

TRÒ CHUYỆN CUỐI NĂM 2013 by Tuệ Nguyện


Cuối năm là khoảnh khắc dùng để ôn lại, dùng để nhìn lại những chặng đường đi qua trong một năm. Đáng lẽ TN phải viết gì đấy trước giao thừa nhưng vì sức khỏe không cho phép nên bây giờ mới có thể thực hiện được. Trước khi viết những điều này, bản thân TN phải ngồi lại để nhìn lại tâm mình để tránh việc quá cảm tính trong lúc viết hay đi xa với mục đích muốn gửi gắm những lời khuyên lúc ban đầu. Mục đích của bài viết này chỉ nhằm hai mục đích đó là: “phản ánh và khuyến khích”

Thời đại công nghệ thông tin, nên chỉ vài cái click chuột là chúng ta có thể lấy thông tin từ nơi khác và chuyển tải thông tin đến nơi khác. Nên hàng loạt bài viết về tôn giáo, thiền định, v.v… cũng trở nên phong phú và cái giá trị của những bài viết này cũng đủ dạng.

Đối với vai trò của một vị tu sĩ trẻ, trẻ ở đây có hai nghĩa trẻ về tuổi lẫn trẻ về năm tu thì việc cần phải làm đó là học để có kiến thức, có kiến thức mới thẩm xét được sự đúng sai trong oai nghi, phẩm hạnh, v.v… đặc biệt là cái “hiểu đúng”? (không dám dùng từ tri kiến gì cho nó cao xa), hiểu đúng ở đây chỉ đơn thuần là những gì mà mình đang cho là tu tập nó có đúng với Pháp và Luật mà Đức Phật đã dạy hay không? Nếu nó đúng, thì nó đúng như thế nào, trong hoàn cảnh nào, đối với đối tượng như thế nào mà Đức Phật lại hướng dẫn như thế? V.v…Nói gì thì nói chứ e ngại nhất là cái kiểu học chưa thông mà bị lầm lẫn cái “sở kiến, sở chứng, sở đắc” chi chi đấy rồi đem rao giảng cho thiên hạ thì TỘI CHO HỌ QUÁ!

Nói thêm về vấn đề HỌC, chúng tôi nhớ khi mới vào chùa cho đến lúc được tập tành ngồi lên Pháp tọa rồi đấy, cái công việc đáng sợ nhất đó là BỊ BẮT THUYẾT PHÁP vào mỗi nửa tháng nên thường trốn tránh hoặc giả vờ đùn đẩy. Đối với thế hệ Tăng sinh trẻ cái công việc mà chúng tôi thích thú làm nhất chỉ đơn thuần là “Ăn, ngủ, chơi và học”; tuổi trẻ chỉ có việc học là niềm vui lớn nhất. Nhiều người cứ bảo: “Ôi! Mấy ông sư nhỏ chỉ lo học hành chẳng lo tu gì cả!” Chữ TU nó không nằm trọn vẹn trong một hành động duy nhất là chân xếp bằng, mắt lim dim; mà chữ TU bao gồm nhiều oai nghi và trong công việc như ăn như thế nào? đi như thế nào? nói chuyện như thế nào? v.v… dễ gì có được mấy ai biết mấy ông sư nhỏ phải học và phải tu mấy cái này.

Trở lại vấn đề của mấy vị “trẻ trong đời sống phạm hạnh”(không hẳn là trẻ tuổi), hầu như mấy vị này thường thích chọn con đường thiền định. Như đã nói từ đầu, mục đích của bài viết là phản ánh và khuyến khích nên không có sự đả kích trong đây. Mặc dù, Đức Phật có ban hành Gantharadhura – trách nhiệm trong việc học và Vipassanādhura – trách nhiệm trong việc thực hành Vipassanā; nhưng điều đấy không có nghĩa là vị nào hành pháp thì được phép không cần học để “hiểu đúng”. Cái thiếu kiến thức hoặc thiếu sự “hiểu đúng” nó rất là tai hại, ví dụ như thế này: Ngày trước chúng tôi có ở một cái trung tâm thiền được nhiều người xưng tụng là nơi thanh tịnh về giới luật. Ở một thời gian, thì thấy có mấy vị kia bàn cãi một cách sôi nổi lắm, nghe ra thì cũng mấy điều luật không quan trọng lắm nhưng mấy vị làm kiểu như là phạm phải điều ấy là mất đi cả phẩm hạnh Tỳ khưu vậy. Khổ nỗi cái hệ quả của việc thiếu kiến thức nó không dừng ở mức đó, những vị đấy lấy việc Thanh Tịnh Giới của mình làm niềm tự hào rồi THỂ HIỆN bằng nhiều hình thức rất là ngộ nghĩnh. Không biết mấy vị ấy có bao giờ hình dung cái hình ảnh của “một người vào rừng tìm lõi cây, chặt vỏ ngoài cho là lõi cây rồi đem về” – đối với những vị thỏa mãn và hài lòng với sự thành tựu về giới của mình thì cũng như người lấy được vỏ ngoài mà nghĩ là lõi cây. Điều tai hại của việc thiếu kiến thức đó là lầm tưởng PHƯƠNG TIỆN LÀ CỨU CÁNH.

Đối với thời đại thông tin tràn lan như hiện nay, thì những người tại gia cư sĩ cần chuẩn bị cho mình một khả năng giống như một người thợ kim hoàn thử vàng phải biết đốt nóng, chà xát, v.v… để thử vàng; cần phải chuẩn bị cho mình cái lý tính để đánh giá, học hỏi nhìn nhận vấn đề thay vì cái cảm tính. Có một lần, đọc một cái bài nọ, chúng tôi thấy người viết thiếu kiến thức trong việc nhận định và đưa ra nhiều cái sở tri, sở kiến, xem tiếp những comment phía dưới thì thấy toàn là “ôi! Sư minh triết quá!, sư chí lý quá!”, thật tình là đọc mãi mà không thấy minh triết và chí lý điểm nào. Đây chỉ là một trường hợp điển hình thôi nhưng nó thể hiện lên cái tính “dễ hài lòng, dễ chấp nhận những gì được nêu lên” nói ngắn gọn và xúc tích hơn là “A DUA”.

Điểm tiếp theo đáng lưu ý là về vấn đề nương nhờ và tu học theo một vị Tăng nào đấy, sau đó, hình thành lên cái mà chúng tôi gọi là THẦN TƯỢNG HÓA CÁ THỂ, nhưng có ai nhớ rằng quy y Tăng (Saṅghaṃ saraṇam gacchāmi) là nương nhờ Tăng chúng, chứ không phải nương nhờ 1 ông sư nào đấy. Nhiều chuyện oái ăm cũng từ cái nương nhờ riêng biệt một cá thể mà ra như ông sư đó làm chuyện quấy hay hoàn tục rồi người còn lại ôm HẬN, mất niềm tin, v.v… chuyện cứ tưởng như đùa mà có thật. THẦN TƯỢNG HÓA CÁ THỂ là một dạng bệnh chung mà nhiều người mắc phải nó không chỉ dừng ở mức độ như trên, đôi khi có những cuộc khẩu chiến đại loại như “Thầy tui thiền sư ABC dạy thế này….”

Nói mãi chắc cũng không hết những chuyện đại loại thế này. Thiếu kiến thức và hiểu chưa đúng đâm ra nhiều thứ khá là tai hại. Do đấy mà việc học rất là cần thiết cho tất cả mọi người, chúng tôi còn nhớ mãi cái hình ảnh của một vị lão tăng tuổi hơn bảy mươi người mảnh khảnh, lọm khọm hằng ngày đi bách bộ quanh rừng thiền nhưng miệng vẫn tụng niệm những câu Phật ngôn… Những gì được phản ánh trái chiều bên trên vốn không phải quy chụp tất cả mọi người, mà là hình ảnh mà chúng tôi hay mọi người thường gặp đâu đó hoặc đã gặp mà không ai dám thổ lộ hay trình bày. Bài viết này với mục đích như một lời trò chuyện cuối năm, chỉ với mục đích thư giãn, để nhìn lại, để khuyến khích mọi người hãy học.

It’s never too late to learn!

Tuệ Nguyện 04/01/2014 


Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

ÔNG NỘI TRONG CÁI SỌT







Có câu truyện dân gian của người Á đông kể về đứa con trai tàn nhẫn với cha đẻ của mình.

Truyện kể rằng có đôi vợ chồng trẻ. Có cậu con trai chín tuổi. Cha của người chồng trẻ tức là ông nội của cậu bé chín tuổi cùng sống chung. Người cha đã già và hom hem, không có khả năng lao động và ngồi một chỗ. Người vợ trẻ tuổi phàn nàn về sự có mặt của bố chồng tức ông nội của cậu bé chín tuổi trong nhà. Nhưng người chồng, luôn cố gắng thuyết phục và làm dịu vợ mình. Một đêm, người vợ trẻ chờ cho con trai đi ngủ và bảo chồng nếu như muốn sống với cô ấy thì hãy bỏ cha già đi, người chồng đã không bảo vệ được cha mình. Anh ấy đã đồng tình với ý kiến của vợ và quyết định rằng cuộc sống gia đình phải được tiếp tục, không thể đứt quản. Cho rằng là con trai đã ngủ, hai vợ chồng âm mưu bàn tính để đem bỏ cha vào rừng. Người vợ nói: "sáng sớm mai, anh phải bảo cha rằng anh mang cha đi hành hương. Cho cha vào sọt và mang bỏ vào rừng sâu. Bỏ cha ở đó với thú vật và hãy trở về nhà". Cậu bé còn thức nằm trên giường và nghe lỏm những điều cha mẹ cậu bàn tính.

Sáng hôm sau, cậu bé thức dậy. Như dự kiến, người chồng đặt cha vào sọt và chuẩn bị đi. Cậu bé hỏi. 
- thưa cha, cha mang ông nội đi đâu ?

- Con trai à, cha mang ông đi hành hương.

- Được, nhưng cha nhớ mang sọt về cho con bởi vì con muốn dùng cái sọt để mang cha đi hành hương khi cha đến tuổi như ông nội.

Lúc gay go quyết định cho hai vợ chồng trẻ. Họ đã chuyển tâm và tiếp tục nuôi dưỡng cha tại nhà.

Câu chuyện ngụ ý thật châm biếm và có ý nghĩa về mặt đạo đức làm người.



Thời Ấn Độ cổ cũng có vài câu chuyên tương tự như vậy. Chủ tố của các câu truyện cũng nói lên sự bạt đãi của con trẻ đối với cha mẹ và điều tệ hại này đã được cháu nội nhắc nhở.



Theo câu truyện tương tự thì cậu con trai cho cha lên xe ngựa để bỏ cha ở nghĩa địa. Cháu nội đã đi theo sau cha. Khi đến nghĩa trang, cha cậu bé đào mồ chôn ông nội, cậu bé bảo cha “ xin cha hãy đào thêm một mồ nữa để con chôn cha lúc cha gia như ông nội, con sẽ không mât công đào”. Dĩ nhiên điều này đã ngăn được hành động của người cha trẻ. Ngụ ý bài học cho câu truyện là khi bạn cư xử với cha mẹ mình thế nào thì con cái sẽ cư xử với bạn như vậy.


Một câu truyện khác, ông nội được nhận thúc ăn trong cái đĩa cũ bẩn và đặt dưới đất. Cái dĩa bẩn đến nổi không ai sờ vào nói chi là dùng để đựng thức ăn. Khi con trai nhận thấy không muốn nuôi dưỡng cha thì quyết định quăn cái đĩa bẩn đi. Cậu bé ngăn và bảo:

- Xin cha đừng quăng cái đĩa đi. Con muốn giữ nó lại.

Người cha trẻ hỏi “để làm gì”

Cậu bé trả lời “dĩ nhiên bởi vì con muốn đựng thức ăn khi cha đến tuổi như ông nội’. Điều này dạy cho người cha trẻ cần phải thương quý cha mẹ già.

Ngày xưa, ở một vùng nọ, có vợ chồng kia hiền lành và chăm chỉ, hai người lấy nhau đã lâu mà vẫn chưa có con, họ cầu Trời khấn Phật mãi nhưng vẫn chưa có kết quả.
Hôm ấy, sau khi hai vợ chồng đi lễ chùa về, trời đang nắng bỗng nổi cơn mưa lớn, sấm chớp nổ đùng đùng làm cả hai xanh mặt, vội vã chạy đến một cái miếu nhỏ ở bên đường để núp tạm tránh sét, khi chạy gần đến bậc thềm thì người vợ trợt té, úp bụng xuống đất.
Chồng thấy vậy thì hoảng quá, bồng vợ mang vào bên trong miếu, tưởng rằng vợ bị sây sát gì, nhưng người vợ bảo là chẳng bị trầy trật ở đâu cả, chỉ thấy hơi đau nhói một chút ở bụng mà thôi.
Mưa tạnh trời quang, vợ chồng đưa nhau về nhà và một tháng sau thì người vợ mang thai. Biết rằng Trời Phật đã nhận lời, hai người mừng vô hạn, bèn lấy một phần ba của cải đem đi bố thí cho người nghèo để đền ơn.
Đến ngày khai hoa nở nhụy, người vợ sinh ra được một thằng bé kháu khỉnh trong niềm sung sướng tột cùng. Người chồng bảo:
- Trời Phật đã thương mà nhận lời chúng ta, thì chúng ta phải cố sống làm sao cho xứng với tình thương ấy. Tôi dự tính trích thêm một số bạc nhà mình để sửa lại chùa, mình thấy thế nào?
- Thì mình tính sao em nghe vậy, ân đức này cao bằng trời biển, biết bao nhiêu mà sánh bằng được?
Và thế là ngôi chùa đã được người chồng bỏ tiền ra sửa sang lại khang trang hơn trước.
Đứa bé đầy tháng thì ông mang đến lễ chùa tạ ơn và được đặt tên là Phúc để nhớ đến ân phúc Trời Phật đã ban cho vợ chồng họ.

Thằng Phúc chóng lớn và khôn ngoan thấy rõ, mới lên ba mà đã ăn nói như người lớn vậy, hai vợ chồng cảm thấy vô cùng sung sướng và hạnh phúc khi có một người con như thế.
Những tưởng cảnh đầm ấm này sẽ được dài lâu, ngờ đâu sự việc đến không như họ nghĩ, vì cũng năm đó, người vợ lâm bạo bệnh rồi đột ngột qua đời, dù người chồng đã tìm đủ thầy, chạy đủ thuốc.
Người chồng chỉ biết ôm con mà khóc, không ngờ tình cảnh lại thay đổi một cách éo le và nhanh chóng như vậy, mới hôm nào gia đình còn hạnh phúc tràn trề mà nay đã gãy gánh giữa đường, phải chịu cảnh gà trống nuôi con.
Sự đời như thế vẫn chưa yên vì cái rủi vẫn đeo bám ông, quá nhớ thương vợ và khóc lóc nhiều nên mắt ông sưng lên, vài tháng sau thì mờ dần, không nhìn rõ được.
Năm đó lại xảy ra hạn hán, mất mùa, người ăn xin đông như kiến, ông lại có tính hay giúp người nên cơ ngơi của ông cứ thế mà vơi dần.
Nạn đói đã bắt đầu xảy ra, người ta giành giật nhau từng củ khoai, bụi sắn mà không còn nghĩ gì đến tình làng nghĩa xóm.

Thấy ông bị mờ mắt, con trai thì còn nhỏ dại, bọn gia nhân của ông ngày trước đói quá hóa liều, đêm hôm ấy chúng đột nhập vào nhà bắt trói cha con ông lại rồi tha hồ vơ vét thóc lúa bạc tiền.
Không nhìn thấy gì nên ông chỉ biết tri hô lên cầu cứu, bọn ác nhân liền phang ông một gậy để ông im miệng vì sợ lộ tung tích, thằng bé Phúc còn nhỏ quá nên chỉ biết sợ hãi nhắm tịt mắt lại rúc vào người cha để tránh nạn.
Bọn cướp vét hết tài sản của ông rồi bỏ đi, để lại thằng bé khóc lóc ngơ ngác bên xác cha mình.
May mà ông chỉ bị ngất đi chứ không chết. Khi người làng hay tin đến cứu thì bọn cướp đã cao chạy xa bay, giờ đây cha con ông chỉ còn cái xác nhà không và mảnh vườn trơ trụi. Ông ôm lấy con mà an ủi:
- Cu Phúc đừng khóc nữa. Bố còn sống đây là được rồi. Thế nào bố cũng có cách gầy dựng lại, cho con ăn học thành người…
Tuy mắt bị mờ, không còn nhìn thấy rõ, nhưng ông vẫn không chịu thua số phận, cố gắng hy sinh tất cả vì con.

Thấy con đói, ông lùng sục khắp nơi để lặt từng mớ rau, dò dẫm đào từng củ khoai, củ chuối, lặn lội mò cua bắt ốc để nuôi con qua ngày đoạn tháng.
Trời cũng không phụ lòng nên cha con ông vẫn sống sót được, thoát qua khỏi mùa đói khắc nghiệt năm ấy.
Ông làm lại từ đầu để gầy dựng cơ nghiệp và lo cho con ăn học, dù có phải làm thuê làm mướn, cực khổ trăm bề, ông cũng không từ nan bất cứ việc gì, miễn sao có cái ăn cho thằng Phúc và gởi nó theo học với thầy đồ trong làng, vui cùng chúng bạn cùng tuổi.
Năm tháng qua đi, Phúc mỗi ngày một khôn lớn và người cha mỗi ngày một già đi, ông vẫn âm thầm lo cho con ăn học mà không quản khó nhọc và sức lực hao mòn.
Ngày con trai lên kinh ứng thí là ngày người cha mừng đến rơi nước mắt, vì ước vọng của ông bao lâu nay đã thành hiện thực.
Con đi rồi, ông lần ra thắp hương nơi mộ vợ mà rằng:
- Xin mình chứng giám cho lòng thành của tôi, có thương con thì cầu xin cho nó được đỗ đạt, làm quan vinh hiển để đổi đời cho nó, còn tôi thì phận già ra sao cũng được. Trước sau sống đời chung thủy với mình, vui vầy sớm hôm với con với cháu.

Quả nhiên, người con trai đỗ á khoa kỳ thi năm ấy và được cử làm quan tri huyện trong vùng. Người cha nghe tin mừng không kể xiết, thế là tâm nguyện đã thành, ông nghĩ vợ mình chắc cũng đang mỉm cười nơi suối vàng khi biết con trai đã công thành danh toại.
Quan tri huyện Phúc nhậm chức được hai năm thì lấy vợ, nàng là con gái của một phú ông trong vùng, do đó mà cuộc sống cũng khá giả và hạnh phúc.
Khi con đã thành đạt thì người cha bây giờ mắt đã lòa đi nhiều, bao nhiêu sức lực đã hao phí khi còn trẻ để làm lụng lo lắng cho con, bây giờ tuổi già, sức yếu, chẳng làm gì được, chỉ biết sống bám vào con trai cho trọn vẹn tuổi già.
Quan tri huyện thấy cha đã già yếu, nên lo lắng chăm sóc cho cha rất chu toàn, khiến người cha lấy làm mãn nguyện và sung sướng trong lòng vì mình đã có một người con hiếu thảo.
Ngày tháng trôi đi nhanh như vó câu băng qua cửa sổ, vợ chồng quan tri huyện cũng có một người con trai xinh xắn và dễ thương như vợ chồng ông ngày trước.
Mặc dù mắt ông đã mờ nên ông không nhìn thấy rõ gương mặt cháu nội, nhưng ông cũng mường tượng ra được ít nhiều qua tiếng nói, cử chỉ, ông thấy thằng bé cũng thông minh và sáng dạ như thằng Phúc khi xưa, gia đình ông lại đầm ấm và tràn ngập tiếng cười.

Ngày đứa cháu nội lên bốn thì sức ông đã yếu lắm, tay chân run lẩy bẩy, mỗi lần ăn uống thật là khó khăn, mắt mờ nên ông không nhìn thấy, làm thức ăn đổ trong đổ ngoài, người con dâu phải dọn dẹp mãi nên lâu ngày thành ra khó chịu.
Đã vậy cứ đôi ba hôm ông lại làm rơi vỡ một cái chén, vì tay ông cứ run cầm cập nên không giữ chặt được, ông cũng lấy làm ngại lắm nhưng không biết làm thế nào vì sức mình đã yếu lắm rồi.
Người con dâu thấy vậy tiếc của nên không dám dọn chén kiểu cho ông nữa vì ông cứ làm rơi hoài, cô nàng thay bằng chén sành để lỡ có đánh rơi thì cũng ít hao hơn. Quan huyện lúc đầu không đồng ý, nhưng sau cũng nghe theo lời vợ vì nghĩ rằng mắt cha đã mờ, đâu có phân biệt được chén kiểu hay chén sành.
Nhưng rồi chồng chén sành cũng ngày một vơi đi vì ông cứ đánh rơi mãi khiến vợ chồng quan huyện không biết xử trí thế nào nữa.
Người vợ bèn nghĩ ra một cách, liền bảo chồng:
- Hay là ta kiếm cái gáo dừa làm chén để dọn cho cha ăn, nếu lỡ rơi xuống đất thì cũng đâu có bể, khỏi phải mất công thay chén khác.
- Không được, ai lại làm thế với cha bao giờ! Thiên hạ biết được thì còn coi mình ra gì.
- Nhưng cứ mỗi ngày đánh rơi một cái thì làm sao mình kham nổi, vả lại mắt cha mờ nên có thấy gì đâu, chén gì thì cũng vậy thôi.
Người chồng cứ phân vân mãi, nhưng rồi thấy vợ nói cũng phải, nghĩ rằng chắc cha cũng chẳng nhìn thấy gì nên giấu mọi người trong nhà, lấy cái gáo dừa đẽo gọt miệng cho phẳng để làm chiếc chén theo như lời vợ.

Đứa cháu nội ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc chén cơm của ông làm bằng gáo dừa, có rơi xuống đất cũng không bị bể, nó cảm thấy lạ lắm, nhưng không lộ ra nét mặt nên bố mẹ nó đâu có biết.
Mỗi lần ăn cơm, cầm chiếc chén trên tay, ông nhận ra ngay đó là chiếc gáo dừa, nhưng ông không nói ra vì sợ mất mặt con mình, dù sao con trai mình cũng là tri huyện trong vùng. Tuy vậy, trong lòng ông đau như bị muối xát, chỉ biết âm thầm nén lại mà thôi.
Hôm nọ, quan tri huyện đi công cán ở xa về, nghe lục đục bên hông nhà liền cùng vợ bước đến xem, họ thấy con trai mình đang cầm dao đẽo gọt hai cái gáo dừa khô…
Họ lấy làm lạ hỏi:
- Này, con đang cầm dao nghịch gì thế? Không khéo đứt tay bây giờ!
Đứa bé hồn nhiên bảo:
- Dạ con đang bắt chước cha đẽo gọt hai cái gáo dừa này thành hai cái chén, phòng khi sau này cha mẹ già yếu dọn cơm cho cha mẹ ăn, lỡ có đánh rơi cũng không bị bể cha ạ.
Hai vợ chồng nghe vậy thì điếng cả người, không ngờ con trai mình lại nói thế, nhưng không trách nó được, vì nó nói đúng quá.
Lòng hiếu thảo và tình thân chợt dâng đầy, vợ nhìn chồng, rồi chồng nhìn vợ, cả hai bật khóc, họ hối hận vì những sai lầm của mình đối với người cha già đáng kính, đã hy sinh trót một đời vì mình.

Thế rồi hai vợ chồng chạy vào trong phòng, quỳ sụp dưới chân người cha mù lòa, vừa khóc vừa nói:
- Cha ơi, xin cha hãy tha lỗi cho chúng con, cha đã hy sinh một đời vì con, thế mà chúng con đã ngu ngốc khi đối xử với cha như vậy…
- Dù muôn nghìn chén vàng chén bạc cũng không sánh nổi lòng cha đối với chúng con. Vợ chồng con nguyện khắc dạ ghi tâm và xin cha tha cho tội bất kính này.
Từ đó vợ chồng người con đối xử với cha rất là hiếu thảo cho tới ngày ông qua đời. Chuyện đứa bé gọt cái chén gáo dừa kia đã thức tỉnh lòng ta đối với đấng sinh thành, vì công ơn ấy cao tựa Thái Sơn, biết lấy gì bù lại cho xứng được?!
HẾT

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

100th Birthday of Somdet Phra Nyanasamvara




100th Birthday of Somdet Phra Nyanasamvara 
Somdet Phra Sangharaja


TIỂU SỬ ĐỨC VUA SÃI PHẬT GIÁO THÁI LAN


Đức Vua Sãi Somdet Phra Nyanasamvara Somdet Phra Sangharaja (Charoen Suvaḍḍhano) (สมเด็จพระญาณสังวร สมเด็จพระสังฆราช (เจริญ สุวฑฒฺโน) là vị Vua Sãi, vị Tăng Thống thứ 19 của Phật Giáo Thái Lan kể từ năm 1989 trong Triều đại của Quốc Vương Bhumibol Adulyadej (Vua Rama IX).
Tên thật của Ngài là: Charoen Khotchawat - เจริญ คชวัตร.
Pháp danh: Suvaḍḍhano - สุวฑฺฒโน.
Danh hiệu chính thức: Somdet Phra Nyanasamvara Somdet Phra Sangharaja (Charoen Suvaḍḍhano) - สมเด็จพระญาณสังวร สมเด็จพระสังฆราช (เจริญ สุวฑฺฒโน)
Danh hiệu đầy đủ: Somdet Phra Nyanasamvara Borommanaritsatammanitiphiban Ariyawongsakhatayanawimon Sakonlamahasangkhaparinayok Tripidokpariyattithada Wisutthachariyathisombat Suwatthanaphithanasangkhawisut Pawachanuttamaphisan Sukhumthammawithanthamrong Wachirayannawongsasiwat Phutthaborisat Kharawasathan Wibunsilacharawattrasunthon Bowonthammabophit Sapphakhanison Mahapathanathibodi Khamawasiaranyawasi Somdet Phra Sangkharat - สมเด็จพระญาณสังวรบรมนริศรธรรมนีติภิบาล อริยวงศาคตญาณวิมล สกลมหาสังฆปริณายก ตรีปิฎกปริยัตติธาดา วิสุทธจริยาธิสมบัติ สุวัฑฒนภิธานสงฆวิสุต ปาวจนุตตมพิสาร สุขุมธรรมวิธานธำรง วชิรญาณวงศวิวัฒ พุทธบริษัท คารวสถาน วิจิตรปฏิภาณพัฒนคุณ วิบุลสีลาจารวัตรสุนทร บวรธรรมบพิตร สรรพคณิศรมหาปธานาธิบดี คามวาสีอรัณยวาสี สมเด็จพระสังฆราช.

Thời thơ ấu:
Somdet Phra Nyanasamvara là vị Vua Sãi thứ 19 của Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Thái Lan từ triều đại của Vua Rama I cho đến nay, sinh vào ngày 03 tháng 10 năm 1913 tại tỉnh Kanchanaburi của Thái Lan, vào lúc 04 giờ sáng (tính theo lịch hiện tại là sang ngày 04 tháng 10). Từ khi còn là một đứa trẻ, Ngài đã tỏ ra là một người thích quan tâm về đạo pháp và thích sống một cuộc sống của người tu sĩ Phật giáo. Người ta nói rằng: khi còn nhỏ, Ngài thích được mặc chiếc y cà-sa và thường hay giảng giải Phật Pháp cho những bạn bè và người thân trong gia đình. Ngài đã hoàn tất chương trình tiểu học tại một ngôi trường gần nhà và sau đó đã được thọ giới Sa-di khi mới 14 tuổi.
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, việc giảng dạy và hướng dẫn học Pali tại tỉnh nhà còn khó khăn nên Ngài đi đến một ngôi chùa tại tỉnh Nakhon Pathom, cách quê nhà 70 km. Tại đây, Ngài đã dành trọn 2 năm để học và nghiên cứu môn Pali cũng như là triết học Phật Giáo. Sau đó, Ngài đã chuyển đến Bangkok, tá túc tại Wat Bovoranives – một ngôi chùa nổi tiếng và quan trọng của hệ phái Dhammayuttika của Phật Giáo Thái Lan. Ở tại ngôi chùa này, Ngài đã nghiên cứu hoàn thành đến trình độ Pali 9, trình độ Pali cao nhất trong hệ thống giáo dục của Phật Giáo tại Thái Lan.
Năm 1933, Ngài trở lại ngôi chùa cũ của mình tại quê nhà Kanchanaburi để thọ giới Tỳ-khưu, trở thành vị tu sĩ chính thức trong Giáo Hội Tăng Già của Phật Giáo Thái Lan. Hơn một năm sau đó, Ngài trở lại Wat Bovoranives để thọ giới một lần nữa theo nghi thức của hệ phái Dhammayutt dưới sự chứng minh của đức Vua Sãi thứ 13 của Phật Giáo Thái Lan. Theo sự giải thích của nhiều bậc trưởng lão, lúc bấy giờ các vị tu sĩ đã thọ giới theo nghi thức của hệ phái Mahanikaya sẽ tái thọ giới lại theo nghi thức của hệ phái Dhammayutt là rất phổ biến, bởi vì hệ phái Dhammayutt là hệ phái thuộc Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Thái Lan nhưng nghiêm khắc hơn về vấn đề gìn giữ giới luật cũng như là được sự hậu thuẫn từ Hoàng gia Thái Lan.

Tấn phong chức vụ trong giáo hội:
Sau khi thọ giới cụ túc một cách viên mãn, Ngài Somdet Nyanasamvara nhanh chóng được tiến cử và trải qua nhiều chức vụ trong Giáo Hội Phật Giáo Thái Lan. Theo truyền thống của Thái Lan, mỗi lần vị tu sĩ thay đổi chứ vụ thì chức danh đó sẽ làm thay đổi tên và danh hiệu của vị đó.
Năm 1956, khi được 43 tuổi, tên thường gọi của ngài lúc bấy giờ là Phra Dhammavarabhorn. Khi ấy, ngài được bổ nhiệm làm giám hộ và cố vấn cho Quốc vương Rama IX (Bhumibol Adulyadej) trong nghi lễ của Hoàng gia.
Năm năm sau đó, vào năm 1961, Ngài Somdet Nyanasamvara chính thức trở thành Trụ trì của Wat Bovoranives.
Năm 1972, Ngài được phong tặng danh hiệu Somdet Nyanasamvara, như là danh hiệu thường gọi hiện tại. Đây là một danh hiệu đã không được phong tăng cho bất cứ vị tu sĩ nào hơn 150 năm qua.
Năm 1989, Ngài chính thức được Quốc vương và Hoàng hậu tấn phong lên chức vụ Vua Sãi, vị Tăng Thống tối cao của Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Thái Lan.

Những việc làm của ngài Somdet Nyanasamvara:
Hơn 70 năm từ khi trở thành vị Sa-di và Tỳ-khưu trong Phật Giáo, Ngài Somdet Nyanasamvara đã tổ chức những hoạt động thiết thực trong hệ thống giáo dục của Phật Giáo Thái Lan, Ngài luôn quan tâm đến vấn đề phát triển giáo dục để làm tốt đạo đẹp đời. Ngài đã hỗ trợ rất nhiều trong việc sáng lập và xây dựng nhiều trường học, cũng như tài trợ cho các chiến dịch để xây dựng trường học, chùa chiền và các bệnh viện trong cộng đồng nông thôn.
Với cương vị Trụ trì Wat Bovoranives, Ngài thường xuyên giám sát việc cải tạo, mở rộng những ngôi chùa cỗ, lâu năm có tuổi thọ lên đến vài thế kỷ. Đặc biệt quan tâm đến các kỹ thuật thiền định của các tu sĩ tu thiền lâm ẩn cư, Somdet Nyanasamvara đã hỗ trợ xây dựng một trung tâm nghiên cứu thiền định và hướng dẫn tại Bangkok, Ngài thường thuyết giảng về thiền định và giáo lý Phật giáo vào hai ngày Uposatha mỗi tháng.
Ngài Somdet Nyanasamvara cũng đã hoạt động tích cực trong việc giảng dạy nhiều bài giảng đến cho những người ngoại quốc và những người trong cộng đồng di dân quốc tế tại Thái Lan. Những bài giảng của Ngài được ghi chép lại cẩn thận và được thuyết giảng lại trong cộng đồng người Thái sống xa quê hương, đặc biệt là ở những nơi không được tiếp cận với chùa chiền hoặc tu sĩ Theravada. Những người không phải là người Thái cũng được khuyến khích để nghiên cứu Phật Giáo; Wat Bovoranives được biết đến như là một trong những tu viện ở Thái Lan, nơi mà người phương Tây có thể không chỉ nghiên cứu phật pháp, cũng như xuất gia Tỳ-khưu gieo duyên có thời hạn hoặc là thọ giới Sa-di để thực tập sống cuộc sống của một vị tu sĩ Phật Giáo. Một số sách và các cuộc đàm luận của ngài Somdet Nyanasamvara được dịch sang tiếng Anh, và ngài đã được thỉnh tham gia vào tài trợ cho việc thành lập những tu viện ở nước ngoài.

Thời gian sau này:
Những năm cuối của thập niên 90, sức khỏe của Ngài Somdet trở nên yếu dần theo tuổi tác. Vào đầu năm 1999, Ngài đã ngừng tham dự các cuộc họp của Giáo Hội Tăng già. Các thành viên và cố vấn viên của Giáo Hội Tăng Già Thái Lan có thể hoạt động tiếp tục mà không cần sự lãnh đạo trực tiếp từ ngài Somdet Nyanasamvara.
Đến năm 2003, đức Vua Sãi đã 90 tuổi, Chính phủ và Hoàng gia Thái Lan đã thành lập và bổ nhiệm một Hội đồng các vị tu sĩ để thay mặt Ngài Vua Sãi để trực tiếp lãnh đạo Giáo Hội Tăng Già.
Đầu năm 2004, Đức Vua Sãi Nyanasamvara trở bệnh nặng và phải nhập viện tại Bệnh viện Chulalongkorn ở Bangkok. Ngài phải trị bệnh nội trú tại bệnh viện kể từ đó; trong thời gian đó, Ngài chỉ có 2 xuất hiện công khai bên ngoài các bệnh viện mới nhất trong tháng 10 năm 2005 để ban phước lành tại một buổi lễ tưởng niệm sinh nhật lần thứ 92.
Đến năm 2005, sức khỏe của đức Vua Sãi tiếp tục suy giảm, Somdet Kiaw (được gọi chính thức là Somdet Phutthacharn), Trụ trì Chùa Saket trở thành vị sẽ được tấn phong chức vụ Vua Sãi trong tương lai, nhưng tiếc thay ngài Somdet Kiaw vừa mới viên tịch trong năm 2013, trước lễ kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Ngài Vua Sãi chỉ có vài tháng.
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật của Đức Vua Sãi Tối Cao trong Giáo Hội Tăng Già Thái Lan, Hoàng gia, Chính phủ, các Tu sĩ và Cư sĩ Phật tử đồng hướng tâm cầu nguyện phước báu và tổ chức nhiều lễ kỷ niệm cũng như là triễn lãm, những buổi lễ cầu nguyện đến cho Đức Vua Sãi được mạnh khỏe, sống lâu trường thọ.

DĪGHĀYUKO HOTU SAṄGHARĀJĀ.