Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Tỳ-khưu-ni Parkirti (Cô gái hạ tiện yêu đại đức Ānanda)


*Nguyên tác Anh ngữ: “Venerable Ānanda and outcaste maiden” của V. Weragoda Sarada Mahāthera – Chief Monk/ Chief Administrator - SingaporeBuddhistMeditationCenter). 
*Bản Việt ngữ – phỏng dịch của tỳ-khưu Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh).Ghi chú: Có thay đổi đề truyện. Và trong này, mẹ cô gái có đọc chú “Ma-đăng-già”, không tìm thấy trong Tam Tạng Pāḷi văn.



*Tóm tắt về đại đức Ānanda: Là con trai của đức thân vương Amitodana – em ruột của đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn vương) – ngài có tướng mạo vô cùng tuấn mỹ và có một trí nhớ phi thường. Khi làm lễ tắm rửa và đặt tên, các thầy bà-la-môn rành thông tướng pháp khen ngợi, tán dương không hết lời. Họ nói rằng, vương tử có một đầu óc siêu phàm, bất cứ môn học nào, chỉ cần liếc mắt qua hoặc thoáng nghe qua là nhớ, là thuộc lòng ngay tức khắc. 

Sau khi thành đạo, đức Phật về thăm quê hương lần thứ hai, Ānanda đã cùng với các ông hoàng Anuruddha, Kimbila, Bhaddiya, Bhagu, Devadatta và người thợ cạo Upāli đồng xuất gia. Tôn giả là bậc học rộng, nghe nhiều. Mà nếu không có ngài với trí nhớ ưu việt, thông bác thì có lẽ Tam Tạng kinh điển sẽ không tồn tại đến ngày hôm nay. Ngài còn là thị giả của đức Phật suốt 25 năm trường, khéo léo và tế nhị phục dịch đức Đạo Sư; và dường như không có một khiếm khuyết nào về bổn phận, đức hạnh cũng như sự mẫn cán, tinh cần. Ngài cũng là người đã ba lần thỉnh cầu tha thiết xin đức Phật thâu nhận nữ giới vào giáo hội; và nếu không có ngài thì ni chúng tỳ-khưu-ni không biết có hiện hữu trên thế gian này hay không!

Ngoài tướng hảo quang minh, một mỹ nam tử – chỉ có thua đức Phật – tính tình ngài lại mềm mỏng, dịu dàng, đoan nghiêm, phúc hậu… lại dạt dào tình cảm với huynh đệ, hai hàng cận sự nam nữ – nên trong hàng tứ chúng, ai ai cũng quý kính, tôn trọng và cảm mến ngài. Chẳng có ai gặp ngài mà không mang một ấn tượng tốt, một hảo cảm đặc biệt, nhất là nữ giới… vì vậy, mới có chuyện sau đây xảy ra… 


Một ngày kia, đại đức Ānanda du hành ở phương xa, trên đường trở về tịnh xá Kỳ Viên, ngài đi trì bình khất thực quanh xóm làng ngoại ô rồi nghỉ dưới một gốc cây để độ thực. Dùng ngọ xong, đại đức ôm bát đi theo lối mòn tìm nước uống nơi một xóm nhà nghèo nàn ven chân núi. Thấy một cô thiếu nữ bên đường đang múc nước giếng, bước đến gần, ôm bình bát trong tay, ngài lặng lẽ đứng một bên, đưa mắt nhìn xuống.

Cô gái ấy tên là Prakirti, nàng vốn là hạng tiện dân chiên-đà-la(1) thấp kém ở ngoài rìa xã hội, thấy một “vị bà-la-môn” tướng cách cao sang, quý phái đến đứng lặng lẽ gần bên thì vô cùng sợ hãi; nàng cúi đầu xuống, hỏi lí nhí trong cổ họng:

- Thưa ngài, ngài cần gì không ạ?

Đại đức Ānanda, vẫn với tầm mắt nhìn xuống, nói rõ mục đích của mình:

- Thưa cô, vui lòng cho tôi xin chút ít nước.

Nghe “người lạ” thuộc đẳng cấp thượng lưu lại nói lời “thưa cô”, cô gái càng sợ hãi hơn:

- Cháu là kẻ thấp hèn.

- Tôi chỉ cần chút ít nước thôi.

- Cháu là dân thấp hèn, hạ liệt. Không có ai uống nước của chúng cháu cả.

- Tôi chỉ cần chút ít nước uống cho hết khát thôi. Nước là dùng để mà tắm rửa, giặt giũ, giải khát; nước có phân biệt giai cấp gì đâu, thưa cô!

Nghe “người lạ” nói một câu kỳ lạ là không phân biệt giai cấp, cô gái bây giờ mới mạnh dạn ngước đầu lên, mới dám trả lời cho rõ ràng:

- Cháu là con gái giống nòi hạ đẳng chiên-đà-la. Nước giếng này vốn trong và ngọt, nhưng đối với những người ở giai cấp trên, họ xem nước của chúng cháu không sạch, nó dơ bẩn. Nước này chỉ có chúng cháu uống. Các giai cấp trên trước họ chê là ô uế, họ không uống đâu; cho chí rửa tay, họ cũng không dám!

- Tôi không hề hỏi cô thuộc giai cấp, đẳng cấp nào mà! Tôi chỉ xin nước uống thôi mà.

- Chẳng lẽ ngài không biết sao? Trong xứ này, nói đại lược là có hai giai cấp, giai cấp cao sang và giai cấp hạ liệt(2). Cháu thuộc hạng người thấp thỏi, hèn kém nhất trong xã hội loài người.

- Tôi đâu cần biết giai cấp của cô. Tôi chỉ cần nước uống thôi, thưa cô!

- Làm sao cháu có thể tùy tiện dâng nước cho ngài được? Cháu là con gái hạ tiện. Những người ở trong lâu đài to lớn, cao sang trong kinh thành, họ thuộc giai cấp trên trước(3). Còn những người hèn hạ như cháu, chúng cháu không có được cả cái quyền nhìn họ nữa là. Ngay cả cái bóng của chúng cháu, họ(4) cũng ghê tởm không dám dẫm lên. Khi chúng cháu đến gần, họ tránh ra xa. Nếu bắt buộc phải nhìn thấy chúng cháu, họ phải rửa mặt tẩy uế với nước tẩm hương hoa, vừa cau mày vừa than: “Thần thánh ôi! Ta vừa nhìn thấy cái gì vậy kìa! Bọn dân hạ tiện!”. Thế thì làm sao cháu dám dâng nước cho ngài được? Làm sao cháu dám đến gần ngài để dâng nước? Nếu chiếc bóng của cháu có dính trên người ngài, ngài cũng sẽ trở thành dân hạ tiện mất thôi!

Đại đức Ānanda cảm thấy bất bình về định kiến tệ hại của xã hội, xót thương cho hạng tiên dân sống trong hoàn cảnh bất công, tủi nhục nên muốn nói rõ cho cô gái biết quan niệm bình đẳng giữa người và người trong giáo pháp của đức Tôn Sư:

- Tôi không để ý gì đến cái gọi là giai cấp cao và thấp ấy. Tôi chỉ biết rằng cô cũng là một con người như tôi thôi. Tôi chưa bao giờ nghe nói giai cấp có thể tạo ra sự khác biệt giữa người này với người khác. Tôi không chấp nhận ý tưởng, quan điểm cổ hủ, mọi rợ và lệch lạc ấy. Tất cả mọi người trong chúng ta, ai cũng có hai tay, hai chân, hai mắt, một miệng, một khuôn mặt và một cái mũi. Có thể nào mặt trời lại mọc ở phương Tây đối với người thuộc giai cấp dưới? Có thể nào mặt trời lại mọc ở phương Đông chỉ để dành cho giai cấp thượng lưu? Còn nữa, cảm nhận hạnh phúc hay đau khổ thì ai cũng giống nhau, có ai khác với ai đâu? Khi ăn, bụng ai cũng đầy, cũng nở ra; khi đói thì bụng ai cũng cồn cào và nó teo tóp lại! Vậy thì họ khác nhau ở chỗ nào, thưa cô?

“Giữa con người với con người thì ai cũng giống nhau”- Prakirti nắm bắt được ngay quan điểm vượt ngoài giai cấp rất bình đẳng, rất cởi mở, thông thoáng của “người lạ”, nhưng cô cũng muốn hiểu cho rõ hơn:

- Bề ngoài thì không có gì khác nhau lắm đâu, đúng như ngài đã nói. Nhưng những người ở giai cấp trên, họ nhờ có phước báu nên mới xứng đáng sinh vào dòng dõi thượng lưu ấy được. Còn chúng cháu thì do vô phước, nhiều tội lỗi nên phải sinh vào dòng dõi thấp hèn này. Họ được diễm phúc sinh ra từ miệng, từ vai Đại Phạm Thiên (Mahā Brāhmā). Còn chúng cháu thì “bị” sinh ra từ bàn chân, gót chân của đấng ấy. Tất cả chúng cháu đều không được phép học kinh Vệ Đà. Do vậy chúng cháu ngu dốt, thấp kém, thua thiệt đủ mọi bề, mọi thứ. Chúng cháu không được đặt vào bất cứ một giai cấp nào, là hạng người ở tận cùng cái đáy của xã hội, thưa ngài.

Bây giờ thì cả hai người đã bắt đầu nói chuyện một cách khá tự nhiên. Cô gái khẽ nhìn “người lạ”, thấy ông ta đẹp đẽ và oai nghiêm quá, cô lại cúi đầu xuống, tim đập thình thình, đôi má chợt đỏ lựng lên.

Đại đức Ānanda vô tâm không để ý, tiếp tục cuộc đối thoại, giải thích cho cô gái rõ hơn một tí nữa:

- Bậc đạo sư của tôi không dạy như vậy, không giảng như thế đâu. Ngài dạy rằng, tất cả chúng ta đều bình đẳng, không có giai cấp trong giọt máu và trong giọt nước mắt. Máu ai cũng đỏ và giọt nước mắt ai cũng mặn. Cô có thể nghe tôi đọc câu này, là của đạo sư tôi dạy đó:

“No jaccā vasalo hoti
Na jaccā hoti brāhmaṇo
Kammanā vasalo hoti
Kammanā hoti brāhmaṇo”.

Nó có nghĩa là: Không ai sinh ra đã thành hạ tiện. Không ai sinh ra đã thành bà-la-môn. Chính do hành động, do nghiệp (kamma) mới thành hạ tiện, chính do hành động, do nghiệp mới thành bà-la-môn!

Cô gái nghe như uống cả vào lòng, mát rười rượi. Cô len lén đưa mắt ngó quanh xem thử có ai thấy không. Vừa sợ hãi vừa thẹn thùa, cô cúi xuống, với bàn tay run run, đưa gàu kề miệng bát để rót nước. Khi thấy nước vừa đủ dùng, đại đức Ānanda bưng bát uống một hơi dài. Sau đó, ngài còn chịu khó, dịu dàng giải thích thêm cho cô gái, đại ý là: Phải biết giá trị con người trong cộng đồng loài người, đừng tự ti mặc cảm, đừng sống theo quy định, áp đặt của xã hội; phải biết tôn trọng giá trị con người trong con người của mình, để vươn lên, để đứng thẳng, để giữ vẹn phẩm chất cao quý của con người – là như thế nào! Con người vốn bình đẳng và tự do! Không luật pháp nào, định chế nào, xã hội nào, con người nào có quyền tức đoạt cái quyền bình đẳng và tự do ấy.

Thấy cô gái im lặng lắng nghe có vẻ rất chăm chú, ngài từ tốn nói lời cám ơn cô gái rồi ôm bát bước đi.

Cô thiếu nữ sững sờ đưa mắt nhìn theo cho đến khi ngài Ānanda khuất dạng phía xa xa…

Đăm đắm nhìn theo chiếc bóng của vị sa-môn, cô gái như còn nghe văng vẳng bên tai: “Vui lòng cho tôi xin chút nước!”, “Vui lòng cho tôi xin chút nước!” Ôi! Lời nói sao mà ngọt ngào, mát dịu lạ lùng! “Vui lòng cho tôi xin chút nước!”, “Vui lòng cho tôi xin chút nước!” Ôi! Lời nói sao mà dịu dàng, khiêm tốn đến vậy! Ồ, vị này là ai, ở đâu mà vừa cao sang quý phái, vừa đẹp đẽ, đôn hậu quá chừng chừng! Chẳng lẽ không có một giếng nước nào khác ở trong kinh đô Sāvatthi này? Chẳng lẽ chỉ có nước duy nhất ở cái giếng này thôi? Tại sao người ấy lại tìm đến ngay mình đây để xin nước? Chẳng lẽ mình là người con gái duy nhất tại kinh đô Sāvatthi? Quả thật người ấy chỉ đến để xin nước, chẳng cần quan tâm rằng mình là hạng con gái thấp hèn? Lẽ ra người ấy phải biết chứ! Nhìn qua cách ăn mặc thì trẻ con cũng biết mình là dân bần cùng, hạ tiện. Người đàn ông đẹp đẽ, cao sang, quý phái, khiêm tốn, dịu dàng, khả ái kia là ai vậy kìa? Ông ta từ đâu đến? Cám ơn trời đất, thánh thần trên đầu trên cổ đã đưa người ấy đến cái giếng nước “định mệnh” này. Nhờ người ấy, tôi mới biết được rằng tôi cũng là một con người, lại là một thiếu nữ son trẻ như ai kia vậy. Từ trước đến nay, tôi cứ nghĩ mình không phải con người, chỉ là một động vật hạ liệt dơ dáy, là một đứa con-gái-thú-vật (animal-girl) không hơn không kém. Ôi, gương mặt người ấy sao mà quyến rũ! Ôi, đôi mắt người ấy sao mà tràn ngập nhân từ! Ôi, dáng dấp người ấy sao mà thanh nhã, trẻ trung, sáng chói, đẹp đẽ đến vậy! Làm sao mình có thể gặp lại người ấy một lần nữa bây giờ? Làm sao mình có thể nghe lại giọng nói ngọt ngào kia một lần nữa? Sống để mà làm gì nếu không thấy lại được người ấy? Ôi, giá như ngày nào mình cũng được dâng nước cho người! Ngày nào mình cũng được nói với người ấy vài lời, vài lời thôi! Nếu người ấy lại đến, thì nhất quyết mình không để cho người ấy đi. Tôi sẽ mang người ấy về nhà và giữ rịt người ấy lại. Nếu được ngắm người ấy, mình sẽ không cần ăn, không cần uống. Cứ nhìn người ấy là đủ no rồi, đủ hạnh phúc rồi. “Vui lòng cho tôi xin chút nước!”, “Vui lòng cho tôi xin chút nước!” Ôi! Tiếng lời dịu dàng ấy đã khắc sâu vào tận đáy lòng, khắc sâu vào trái tim của mình mất rồi!

Mẹ cô thiếu nữ hạ tiện thấy con mình đi múc nước quá lâu không về, sốt ruột, bà gọi ơi ới:

- Prakirti! Prakirti! Con ở đâu? Mẹ tìm con nãy giờ sao không thấy? Con gái tôi đi đâu rồi? Đã có chuyện gì xảy đến với con thế? Con đã mọc rễ bên bờ giếng rồi hay sao vậy? Lần nào đi lấy nước cũng cứ trò chuyện mải miết với bọn con gái thôi! Prakirti! Prakirti!

- Thưa mẹ, con đây!

- Ở đâu thế?

- Ở đây! Bên giếng nước chớ đâu!

- Trời đã trưa trợt rồi. Đất đã nóng bỏng cả chân rồi đó. Tất cả con gái nhà người ta đi múc nước đều đã về cả rồi. Tại sao con còn làm gì ở đấy một mình vậy?

- Mẹ ơi, cái giọng nói kia sao mà ngọt ngào quá: “Vui lòng cho tôi xin chút nước!”

- Vui lòng xin chút nước? Cái gì vậy? Cái gì nước? Ai đã xin con nước?

- Một người đàn ông trẻ trung, đẹp đẽ vô song! Ông ta có cái đầu cạo trọc, mình khoác chiếc y màu vàng, tay thì bưng bình bát. Ấy là một chàng trai thanh niên có dáng dấp thanh cao, khả ái, thưa mẹ.

- Cạo trọc đầu? Làm sao một người đàn ông trẻ, đầu cạo trọc mà có thể gọi là đẹp được? Chẳng lẽ con không biết, họ cạo trọc đầu là để mà phá tướng? Là để mà xua đuổi cái đẹp đi?

- Con không biết điều đó. Mà con cũng không cần biết, không thèm biết. Con chỉ thấy, chỉ biết người đàn ông cạo trọc ấy đẹp tuyệt trần. Toàn thân người ấy sáng rực ánh vàng như dát vàng. Cặp mắt người ấy nhân từ, dịu dàng. Phong thái người ấy thanh cao nhưng bình dị. Là hiện thân của nhân từ và bình dị đó, mẹ ơi!

- Người ấy có cùng đẳng cấp với mình không con?

- Dạ thưa có! Người ấy nói là ở cùng một giai cấp với chúng ta!

- Giai cấp gì vậy con?

- Là con người! Cùng một “giai cấp con người” đấy mẹ ạ!

- Chắc con lại giở trò ma lanh che giấu cái dòng hạ tiện của mình khi nói chuyện với người ta chứ gì? Biết bao nhiêu tiện dân ở xứ này không muốn để lộ thân phận nô lệ của mình cho người khác biết. Thái độ ấy thật là nhục nhã. Nếu trong chúng ta ai cũng hãnh diện, tự hào về chỗ mình đang đứng, bằng lòng cái kiếp cỏ rác hèn mọn của mình thì làm gì, có ai dám chê chúng ta là thấp hèn, là hạ liệt nữa nào! Có lẽ con không nói cho người ta biết con là con gái hạ tiện, phải không?

- Không, con có nói! Con có nói con thuộc về hạng tiện dân. Nhưng người ấy không chịu nhận như vậy. Người ấy chỉ nói hoài, nói mãi là “chỉ xin nước uống thôi”. Người ấy còn đọc một câu kệ, có lẽ là do đạo sư của người ấy dạy: “Một người trở thành bà-la-môn hay hạ tiện không phải do sinh ra mà do hành động, do nghiệp tạo thành!”

- Người ấy còn nói gì nữa không?

- Người ấy còn nói cái gì có vẻ cao siêu lắm mà con không hiểu hết ý nghĩa.

- Vậy sao? Thế con có nhớ được một câu, một đoạn nào, nói lại cho mẹ nghe xem nào!

- Không nhớ mới lạ! Nó như khắc in ở trong óc con đó!

- Vậy con nói lại đi!

- Ổng nói:“Đừng làm trái với cái bản chất tự do mà ta vốn có như là người, và là của con người. Chối bỏ bản chất người của mình, bằng cách nghĩ rằng mình có một bản chất riêng, bản chất riêng ấy là thấp thỏi, là hạ liệt, là đáng khinh miệt và không bao giờ thay đổi được. Nghĩ thế và làm thế là tai hại, là nguy hại còn hơn là giết chết bản chất thật của mình nữa. Thiếu sự tôn trọng mình là một thái độ thấp hèn còn hơn cả hủy diệt bản chất người của mình. Người ấy nói như vậy. Mọi con người sinh ra trên trái đất này đều là những con người tự do” Người ấy còn nói rằng: “Sau khi sinh ra như vậy, tự do như vậy, nhưng lần hồi tự do ấy bị thu hẹp lại vì những hàng rào chướng ngại như chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, đạo sư, giáo sĩ, cổ lệ…” Thưa mẹ! Người ấy nói thấm thía quá. Lại như thắp một ngọn đèn cho cái suy nghĩ của con. Trong đầu con, bấy lâu, con cứ nghĩ về con như là một người cam chịu thấp hèn, bị ràng buộc tất định bởi tập tục xã hội, trong giáo điều đâu đó có sẵn. Con cứ nghĩ về con, thân phận của con có khác gì con chó hoang bất hạnh, sục sạo, bới móc tìm kiếm thức ăn thừa, rơi vãi nơi đầu đường, xó chợ. Người ấy đã mang ánh sáng đến cho con, mẹ ơi! Con cảm tưởng như con từ đây bắt đầu một đời sống mới. Chỉ cho đến ngày hôm nay con mới học hiểu được rằng, con là thành viên mới, là một con người trong xã hội loài người. Người ấy là ánh sáng. Người ấy là ánh sáng của con. “Vui lòng cho tôi xin một chút nước”, “Vui lòng cho tôi xin một chút nước”. Lời nói ấy sao mà dịu dàng, sao mà ngọt ngào đến vậy hở mẹ!

- Mặc dù người ấy không muốn đề cập về hạng người ở ngoài rìa xã hội, nguyên nhân nghèo đói và sự bị nguyền rủa, bị khinh miệt của chúng ta; nhưng con ơi, mẹ biết. Con người ta sinh ra thế này hay thế kia, giàu hay nghèo, quý hay tiện đều là kết quả của hành động, đều là do nghiệp.

- Vậy những người ở đẳng cấp cao đã làm gì mà được sinh ra như vậy ?

- Họ cũng thế! Đó là kết quả của hành động, của nghiệp từ quá khứ vậy.

- Dù thế nào chăng nữa, người ấy nói với con rằng người ta không trở thành cấp cao hay cấp thấp vì sinh ra như thế. Người ấy nói: “Dù là vua chúa, dù là bà-la-môn, dù là đạo sĩ, dù sa-môn – nếu sát sinh hại vật, nếu trộm cắp của người, nếu tà dâm, tà hạnh nếu nói điều ác độc, điêu xảo, nếu rượu chè rượu say sưa thì đều được coi là người thấp thỏi, hạ liệt hết”.

- Đúng vậy! Người ấy nói chí lý. Đó là điều mà mẹ vừa nói với con: Là kết quả của nghiệp!

- Mẹ ơi! Không phải bất cứ điều gì xảy ra cũng đổ vấy cho nghiệp cả. Con không tin. Mình là dân hạ tiện không phải vì nghiệp mà là vì xã hội đưa ra điều lệ, quy định ác độc và ngu ngốc như thế. Con không thể chấp nhận những áp đặt vô nghĩa lý ấy. Mà thôi mẹ ạ! Mình nói chuyện khác. Nói hoài chuyện ấy cũng không đi đến đâu, ai cũng đã chịu đựng, cúi đầu nhục nhã và đớn hèn từ lâu lắm rồi. Hãy nói chuyện về chàng trai xin nước. Chàng trai xin con chút nước kia có tên là gì vậy? Đó là điều mà con muốn biết. Người ấy làm gì? Con chỉ muốn biết chuyện ấy mà thôi.

- Mẹ không biết!

- Mẹ biết mà! Mẹ hay đi đây đi đó, mẹ biết mà! Dường như hồi nãy mẹ có nói chuyện với người hàng xóm?

- Ừ, thôi được rồi! Mẹ biết! Người hàng xóm thấy con nói chuyện với trai nên báo cho mẹ biết! Mẹ cũng thoáng thấy dáng dấp của ông ta rồi. Ông ta tên là Ānanda, là đệ tử của đức Phật, thuộc dòng dõi Sakyā quý tộc.

- Người ấy làm gì vậy mẹ?

- Làm một vị tu sĩ. Ông ta đã từ bỏ đời sống thế tục và đã trở thành một vị tỳ-khưu!

- Ồ, mẹ ơi! Người ấy là một người đàn ông tốt nhất trên đời này. Con chẳng cần biết ông ta là ai. Con chỉ muốn được nhìn ngắm người ấy mãi hoài thôi. Con không thể sống mà không có người ấy. Con cần có Ānanda. Nếu con không có được người ấy, con sẽ nhịn đói cho đến chết. Mẹ ơi! Mẹ có học chú thuật, mẹ biết làm phù phép; vậy mẹ hãy dùng hết khả năng phù phép của mẹ để mang Ānanda đến với con. Nếu không, mẹ sẽ không bao giờ còn nhìn thấy đứa con gái độc nhất của mẹ nữa đâu. Con sẽ nhịn đói cho đến khi mẹ mang Ānanda lại cho con.

- Đức vua Kosala của chúng ta là người rất kỉnh mộ ông Cù Đàm. Đức vua đến hầu ông Cù Đàm mỗi ngày. Liệu hồn đấy! Nếu biết con yêu Ānanda, đức vua sẽ đốt nhà, đốt xóm chúng ta đó. Đức vua sẽ cấm tiệt dân hạ tiện chúng ta sống trong xứ này. Lúc ấy là chết. Con làm hại mọi người trong giai cấp thấp hèn của chúng ta đấy, con có biết không?

- Con không biết! Mẹ hãy đọc thần chú (mantra) ngay bây giờ đi. Mẹ mà đọc thần chú thì Ānanda sẽ đến ngay lập tức. Con mà không có Ānanda thì con không thể sống được đâu.

- Đức Phật là người không còn dục vọng nên thần chú của ông ta ghê gớm, cao siêu lắm. Mà Ānanda thì biết thần chú của Phật, chắc hẳn vậy. Nghe nói “Phật chú” diệt hết tất thảy mọi thần chú trên đời này! Mẹ chịu thôi!

- Được mà! Thần chú của mẹ cao diệu lắm mà! Mẹ không giúp con thì con chết!

Thấy con năn nỉ và có vẻ đau khổ quá, không cam tâm được, bà mẹ bèn gật đầu:

- Thôi được! Vì thương con, mẹ sẽ cố gắng, nhất tâm đọc thần chú cho con. Còn nước thì còn tát.

Người mẹ lúi húi lượm phân bò khô, cỏ khô, thêm củi, lá rác vào và đốt lên cho lửa rực cháy. Bà kiếm thêm hoa ở đâu đó rồi từ từ từng cánh, từng cánh rứt ném vào lửa, miệng lâm râm đọc thần chú:

“Amale, vimale, kunkume sumane, yena baddhasi vidyut icchaya devo varsati, vidyotati garjati, vismayan, Maharajasya, samabhi vardhayitum, devebhyo manushyebhyo gandharvebhyah shikigraha deva, visikhigraha grahadeva,Ānandasyagamanaya, Samgamanaya, kramanaya, grahanaya juho svaha.”

Trong khi người mẹ đọc thần chú nhiều lần như vậy, như ma quỷ gọi hồn, đại đức Ānanda ở trong tịnh xá cảm thấy đầu óc bị xáo trộn, rối loạn, không còn làm chủ được tâm trí mình nữa. Như bị ai điều khiển, ngài rời tu viện và mê man đi thẳng đến nhà mẹ con cô thiếu nữ hạ tiện. Thấy đại đức từ xa đi đến, người mẹ bảo cô con gái sửa soạn giường gối. Ānanda bước vào nhà, đứng lại, lặng yên. Trong mơ hồ, ngài cũng thấy cô thiếu nữ Prakirti trang điểm duyên dáng và có vẻ gì đó rất vui sướng. Đại đức thầm biết mình đang gặp nạn, bèn nghĩ đến đức Phật, và bằng ý tưởng, ngài cầu xin đức Phật hộ trì. Bằng thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, đức Phật thấy Ānanda đang ở trong tình trạng nguy khốn, ngay tức khắc, sử dụng năng lực thù thắng của tâm, ngài đọc một đoạn mantra chuyển tải qua không gian một thông điệp siêu linh:

“Sthi racyutith sunitih svastih sarva pranibhyah sarah prasannam nirdosham prashantam sarvatobhayam itayo yatra shamyanti sarva siddhasca yoninani etena satya vakyena svasty Ānandaya bhiksave”.

Do “Phật chú” có năng lực thù thắng, thần chú của bà mẹ tan biến giữa hư không. Đại đức Ānanda tỉnh trí lại, như vừa ra khỏi cơn mộng, thở ra một hơi thở nhẹ rồi cúi đầu cất bước, trở về lại Kỳ Viên tịnh xá…

Prakirti hoảng hốt khi thấy đại đức Ānanda bỏ đi, cô bảo mẹ làm sao cho “ông ta” quay lại.

Bà mẹ thở dài:

- Mẹ biết mà!“Phật chú” dẹp tan mọi thần chú trên đời này. Chắc Ānanda đã học chú thuật của ông Phật Cù Đàm rồi. Mẹ không có khả năng thắng họ được.

Đại đức Ānanda thoát được phù phép của người mẹ, vào đảnh lễ Phật và cung kính đứng hầu một bên.

Đức Phật nói:

- Ānanda! Ông phải nghe và ghi nhớ bài kinh Sadaksara Vidyā này. Đây là bài kinh sẽ hộ trì cho tất cả tăng, ni cùng cận sự nam nữ hai hàng. Bài kinh Sadaksara Vidyā này đã được minh thuyết bởi sáu vị Phật, được hộ trì bởi Tứ Đại thiên vương, bởi Đại Phạm Thiên Sahampati, và bây giờ, bởi Như Lai là Sakyā Muni. Vậy này Ānanda! Ông phải nhớ, phải suy gẫm cho thật kỹ. Nó là những mẫu tự kết dệt lên nhau có âm vang rất huyền bí – tuy nó có nghĩa nhưng không cần thiết phải giải thích. Hãy nghe:

“Andare pandare karande keyurerci haste svara grive Bandhumati, viramati, dhara vidha cilimile, vilodaya, visani loke visa cala golamati gandavile cili mile satimimena yatha samvibhaketa golamati ganda vilayai svaha”.

Rồi ngài dạy tiếp:

- Ānanda hãy ghi nhớ! Người nào đọc kinh Sadaksara Vidyā này, người ấy sẽ được gỡ thoát, được tự do nếu bị tra tấn, hành hạ. Sẽ được miễn hình, giải phóng nếu bị ai đó ra lệnh trừng phạt. Nếu người ấy khiếp sợ thì sẽ được chấm dứt mọi khiếp sợ. Này Ānanda! Người nào được kinh Sadaksara Vidyā này che chở, bảo trợ sẽ không bao giờ bị một năng lực nào vùi dập, bức hại được – ngoại trừ kết quả của nghiệp kiếp trước đã gieo.

Đại đức Ānanda thoát khỏi phù phép của mẹ cô gái. Nhưng Prakirti, cô thiếu nữ kia, vẫn cứ thầm yêu trộm nhớ ngài không nguôi khuây được.

Một ngày nọ, theo thường lệ, đại đức Ānanda đi trì bình khất thực, cô Prakirti cứ lẽo đẽo theo sau. Ānanda biết là nguy hiểm, không đi khất thực nữa, bèn quay về lại tịnh xá, trình bày lại với đức Phật chuyện ấy. Cô thiếu nữ theo gót chân đại đức cũng đã đến Kỳ Viên, tần ngần đứng ở trước cổng. Đức Phật cho gọi cô vào.

Đức Phật hỏi:

- Có thật là cô cứ đi theo sát sau lưng Ānanda?

- Bạch Thế Tôn, dạ đúng thế đó! Con có đi theo bên sau vị ấy.

- Tại sao?

- Bạch Thế Tôn! Con muốn Ānanda làm chồng của con.
Đức Phật mỉm cười:

- Thế cha mẹ của cô có bằng lòng như vậy không ?

- Dạ thưa, cha mẹ con chấp thuận.

- Vậy cô hãy mời hai vị đến đây.

Prakirti về nhà, nói với cha mẹ rằng đức Phật muốn gặp hai người. Lát sau, cô đi cùng với song thân đến Kỳ Viên tịnh xá.

Đức Phật hỏi họ:

- Cô con gái rượu của hai ông bà nói là muốn có Ānanda làm chồng. Hai vị có đồng ý không?

Cha mẹ cô thiếu nữ thưa:

- Bạch Thế Tôn! Chúng con bằng lòng. Con gái chúng con nói rằng nó không sống được nếu không có đại đức Ānanda. Nó nói là nó sẽ nhịn ăn cho đến chết nếu không có được vị ấy.

Đức Phật gật đầu:

- Được rồi. Hai vị có thể an tâm đi về nhà, để Prakirti ở lại đây, Như Lai sẽ sắp xếp mọi chuyện.

Cha mẹ cô gái đảnh lễ Phật rồi lui ra.

Đức Phật bèn quay qua hỏi cô gái:

- Trong kinh thành Sāvatthi này cô muốn bao nhiêu chàng thanh niên cũng có. Cớ sao cô chỉ yêu thương mỗi một mình Ānanda thôi?

- Con thích Ānanda lắm lắm. Con yêu Ānanda nhiều nhiều, rất nhiều. Ôi! Lòng con sáng lấp lánh lên vì chàng. Trái tim con rất ấm áp khi có chàng. Con học được cách suy nghĩ tự do là nhờ chàng. Cũng nhờ chàng mà con hiểu rằng con là một con người, là một thành viên trong cộng đồng nhân loại. Chính chàng đã làm cho con biết con cũng có được mọi tự do, mọi quyền lợi mà bất cứ người nào cũng phải có. Trong lúc con bị xã hội ruồng bỏ, gạt bỏ, xô đẩy xuống tận đáy xã hội, hành hạ với tùy tiện đòn roi đánh đập của bọn cấp cao trên trước, y như một con chó hoang, một con chó dại; chính chàng là người duy nhất dạy cho con hiểu rằng, ý thức được rằng, con cũng là một con người bình đẳng trong chủng tộc loài người. Bởi vậy, chàng là ánh sáng của con, cuộc đời mới của con. Con không thể sống được nếu không có chàng. Mắt con tràn đầy ơn phúc khi nhìn thấy chàng. Giọng nói chàng ấm áp bên tai của con. Ôi! Chàng nhìn con dịu dàng xiết bao! Lời nói nhân từ của chàng đã khắc sâu vào trái tim con. Con phải có chàng, bạch Thế Tôn

- Được rồi. Như Lai sẽ cho cô Ānanda. Nhưng cô phải làm theo lời Như Lai nói.

- Con làm bất cứ điều gì cũng được hết, nếu Thế Tôn cho con Ānanda.

- Nếu cô muốn Ānanda, cô cũng phải mặc cái gì như Ānanda đã mặc. Ānanda cạo trọc đầu, cô cũng phải cạo trọc đầu. Ānanda khoác y vàng, cô cũng phải khoác y vàng. Nếu cô làm được những việc đó, cô có thể có Ānanda.

- Bạch Thế Tôn, con sẽ chạy về nhà và sẽ trở lại đây ngay tức khắc sau khi làm những điều mà Thế Tôn bảo.

Prakirti chạy về nhà, kể lại mọi sự việc cho bà mẹ nghe. Người mẹ mắng cô. Prakirti khóc. Cô nhịn đói.

Người mẹ la rầy cô mà lòng vô cùng thương cảm:

- Con ơi, con điên rồi sao? Con nhịn ăn cho đến khi chết hay sao?

- Xin mẹ hãy cạo đầu cho con. Mẹ không làm, con sẽ chết thôi.

- Con điên rồi! Rồi bà cố gắng khuyên lơn con gái – Con ơi! Người phụ nữ đẹp nhất là ở nơi mái tóc. Cạo trọc đầu rồi thì nhan sắc còn đâu nữa! Con đui mù rồi hay sao? Có gì làm người phụ nữ xấu xí hơn bằng cái đầu trọc lóc? Ôi! Nếu tóc con bị cắt, nếu đầu con bị gọt, con sẽ xấu xí, dị hợm như thế nào chăng? Trong kinh thành Sāvitthi này có cô thiếu nữ nào đẹp bằng con đâu? Mẹ sẽ tìm cho con một chàng trai khác, xứng đáng hơn. Một tấm chồng đẹp hơn. Đừng nóng nảy, vội vàng con ạ. Hãy chịu đựng, kiên nhẫn thêm một thời gian nữa. Hãy suy nghĩ cho kỹ đi! Còn đẹp đẽ, xinh xắn gì nữa nơi một người con gái bị gọt tóc như đầu con cá lóc! Con ơi! Đừng ngu ngốc, điên dại nữa! Hãy tỉnh cái thần hồn lại đi!

- Không! Mẹ nói gì thì nói, con không muốn bất cứ một ai khác. Con chỉ muốn Ānanda, chỉ thích Ānanda, chỉ yêu mỗi một Ānanda thôi! Đối với con, chàng là tuyệt đẹp. Chàng là đệ nhất trên trần đời này! Mặt chàng sáng rực như vàng. Con thích quá cái mắt hòa ái chàng nhìn, cái giọng ngọt ngào chàng nói, cái dáng uy nghiêm chàng đi. Trên cái cõi châu Diêm-phù-đề này, con không muốn bất kỳ một ai khác, ngoài chàng Ānanda của con.

Người mẹ gật đầu, nói:

- Thôi được rồi, con ăn đi.

- Không, con sẽ nhịn đói cho đến khi nào mẹ gọt tóc cho con.

Prakirti tuyệt thực cả mấy hôm sau đó. Sợ cô chết, mẹ cô đành phải chiều ý, cạo tóc cho con gái.

Xong xuôi, người mẹ như nói lẫy:

- Rồi đó! Hãy lấy gương trông thử xem, bây giờ con giống cái gì nào? Đúng là một ni cô xấu xí, xúi quẩy! Chắc chắn ai ai cũng sẽ thất vọng về con. Đây là mưu chước tài tình, trí xảo của ông Cù Đàm, thầy của Ānanda đó. Chẳng có ai trở về nhà sau khi bị ông Cù Đàm ấy dụ dỗ, lừa gạt. Quả là đáo để, ngoài “Phật chú”, ông ta còn có cả phép thôi miên nữa đấy.

Prakirti cười khì:

- Điều đó chẳng quan hệ gì. Con bất cần tất cả nếu có được Ānanda. Con bất cần nếu phải đi xin ăn ngoài đường cùng với chàng. Mẹ ơi! Con xin cảm ơn mẹ! Con chạy vù đến tịnh xá Kỳ Viên ngay bây giờ đây! Chào mẹ! Chào mẹ yêu quý của con!

- Con đi đi! Người mẹ gắt, lớn giọng – Rồi con xem việc gì sẽ xảy ra.

Cô thiếu nữ Prakirti đầu trọc đi đến tịnh xá Kỳ Viên, mình đắp y vàng. Cô đảnh lễ Phật rồi chắp tay đứng hầu một bên. Hàng trăm vị sư, trong đó có Ānanda, đang ngồi quanh Phật.

- Kính lễ Thế Tôn! Cô gái thưa – Con đã làm y như lời Thế Tôn dạy bảo, xin ngài hãy giữ lời hứa, trao Ānanda cho con.

Đức Phật nói:

- Tốt lắm! Con bây giờ xứng đáng để nhận Ānanda. Trước khi Như Lai trao Ānanda cho con, con hãy trả lời Như Lai một vài câu hỏi.

- Xin Thế Tôn cứ hỏi.

- Cái gì nơi Ānanda làm con yêu thích? Cái vẻ bề ngoài của ông ta? Khuôn mặt của ông ta? Cặp mắt của ông ta? Cách nói của ông ta? Dáng đi của ông ta? Cái gì ở nơi ông ta vậy?

- Đối với con, khuôn mặt Ānanda là tuấn mỹ. Mũi cao thẳng, đẹp đẽ. Mắt hiền dịu, dễ thương. Tai có vành tai tròn sáng, như có lực hút, hấp dẫn. Giọng nói ngọt ngào như mật. Tư tưởng đúng đắn, cao thượng, chính đại quang minh, hợp với lẽ phải muôn đời. Toàn bộ dáng dấp bề ngoài đều gợi cảm, quyến rũ. Con gái trên đời này mà không đắm đuối nhìn Ānanda thì người ấy không có con mắt, không xao xuyến rung động bởi Ānanda thì người ấy không có trái tim! Sự thật như vậy đó! Con yêu tất cả “vẻ người” diệu mỹ của chàng.

Đức Phật chậm rãi, điềm đạm nói:

- Con xem thân hình Ānanda là đẹp, có phải thế không? Da thịt Ānanda vàng sáng như ngọc chuốt, có phải thế không? Nhưng mà này con! Nếu da của ông ta bị thương tích, da đó sẽ chảy máu. Nếu không chữa lành thì da đó sẽ sưng tấy lên. Nó sẽ đau. Nó sẽ mưng lên. Rồi nước mủ sẽ rỉ ra. Cái mà con nói là đẹp ấy, nó chỉ là cái bề ngoài mà con thấy, giới hạn nơi cái lớp da bọc ngoài mà thôi. Như vậy, vẻ đẹp hay vẻ gợi cảm, quyến rũ chỉ đều là do cái nhìn về bề ngoài da thịt. Nhưng nếu da của một người bị lột ra thì chẳng ai thèm nhìn người đó nữa. Nếu cái gì ở bên trong thân thể bị lật ra bên ngoài thì lũ chó và lũ quạ sẽ đến tấn công, chụp giựt, cắn xé; phải cầm gậy gộc đuổi đánh chúng đi. Thân thể đó không phải được làm bằng ngọc trai, vàng hay bạc. Cũng không phải thiết kế bằng đá quý, san hô. Cái tạo nên thân thể đó được làm bằng xương, da, gân, thịt, máu, đờm, dãi, nước tiểu, nước bọt, phân… Thân thể ấy không đáng giá gì cả khi con nhìn nó. Nếu nhìn vào thực chất của nó, con sẽ thấy nó đáng ghê tởm xiết bao! Ai là người không có trí thì tưởng rằng nó là đẹp. Thực chất thì nó vô thường như bọt nước, như bong bóng, tan biến như ánh chớp, huyễn ảo như ma thuật, như giấc mộng. Thân thể là phù du, không chắc thật, xảo dối. Nó giống như một chiếc bao chứa đầy đồ phế thải dơ uế. Khi nó bệnh tật, ta trở thành kẻ thù của chính ta. Nếu ta nhịn ăn uống một ngày, nếu ta không tắm rửa một ngày, nếu ta không súc miệng một ngày, ta sẽ thấy chính ta là đáng kinh tởm xiết bao. Tất cả những gì kinh tởm chúng sẽ tứa ra ngoài thân. Thân thể là nơi nương tựa của bệnh tật, của buồn rầu, của sợ hãi, của khổn nguy. Không một ai có thể biết là mình sẽ chết hôm nay hay ngày mai. Đồ phế thải dơ uế của thân thể ta làm chính ta phải ghê sợ, tởm lợm. Thân thể ta là nhà chứa của ghê sợ, tởm lợm. Ta không thể mang cái thân này đi theo được. Ta không thể cho ai cái thân này được. Bộ xương này gồm 300 đốt, không tính răng. Các đốt xương được nối kết lại với nhau nơi 180 khớp. Thịt được cột chùm lại nhờ 900 sợi gân máu. 900 mảnh thịt bám chặt vào gân. Toàn thể bộ xương được da bao quanh, cho nên ta không thấy gì bên trong. Da được đánh bóng nhờ những sợi tơ li li đan kết lại. Thân này có hàng triệu lỗ chân lông. Đồ phế thải dơ uế tứa ra ngoài thân như mỡ đọng nơi vành chảo, miệng nồi. Đó là trú cư của hàng triệu triệu con trùng. Đó là nơi than khóc, tóc tang chọn làm chỗ ẩn náu. Đó là bì da chứa đồ phế thải dơ uế qua chín lỗ thoát hơi… Khi hơi thở lìa khỏi thân này, ai cũng sợ hãi, ngay cả sờ lên đấy cũng thấy kinh! Chỉ vài ngày sau, nó bốc mùi thối hoắc bởi đồ phế thải rỉ ra. Yêu thương cái xác chết này hay yêu thương cái xác chết nọ thì nào có gì khác nhau đâu? Tình yêu là do sự thèm muốn, khao khát mà có. Ở đâu không có thèm muốn, khao khát, ở đấy không còn ham mê, đắm đuối. Ở đâu có tình yêu thân xác, ở đấy tất có sầu buồn đau khổ. Từ ngày con bắt đầu yêu thương Ānanda, con đã chứng nghiệm trong lòng mình bao nhiêu là buồn khổ, khóc lóc, thở than, bỏ ăn, bỏ ngủ, suy nhược, kiệt lả… cả thân lẫn tâm – lẽ ra con phải tự biết chứ? Tất cả những điều đó đâu có phải là hạnh phúc chân thật để cho con phải mất công tốn sức tầm cầu, cưu mang, ấp ủ? Bây giờ, con hãy suy nghĩ cho thật kỹ với trí thông minh của con, nhìn xem thử lại, quan sát kỹ lại cái thân thể của ông Ānanda có phải là cái gì đáng cho con phải mê, phải mệt, phải tương tư, thầm yêu, trộm nhớ không? Hãy nói cho Như Lai nghe thử nào?

Prakirti càng nghe đức Phật nói chừng nào, sự thật càng được phơi bày chừng nào, cô càng kinh khiếp, ghê sợ chừng đó do căn tu nhiều đời. Cứ thử tưởng tượng thôi, là cô cứ muốn nôn ọe…

Cô chợt quỳ sụp xuống:

- Ôi, bạch đấng Giác Ngộ! Quả thật là con đã thấm thía quá sức rồi! Quả thật là con đã thấy được sự thật qua lời giảng dạy cặn kẽ, sâu sắc của ngài rồi. Con đã thấy thực chất những cái gì dơ uế nơi thân thể của đại đức Ānanda qua lời mà ngài vừa đặc tả. Lòng con chợt nhẹ bổng, nhẹ thênh thênh sau khi nghe thời pháp vi diệu của Thế Tôn. Con đã tận tường, thông suốt mọi điều, mọi lẽ rồi; chẳng có gì có thể che giấu, dối gạt con được nữa.

Đức Phật lại mỉm cười:

- Nếu thật là như vậy, Như Lai sẽ thực hiện lời hứa trao Ānanda cho con. Bây giờ con có thể đi về nhà cùng với Ānanda!

Prakirti vái lạy lia lịa:

- Ồ không! Bạch đấng Giác Ngộ! Con không cần chàng nữa, con không cần đại đức Ānanda kia nữa. Lời dạy thâm sâu, cao diệu, nhất là hiện thực và cụ thể của Thế Tôn đã chữa lành tâm bệnh của con, đã chữa lành sự ngu ngốc, điên loạn của con rồi. Bây giờ, con không còn là cô thiếu nữ mê muội sống theo ước vọng điên cuồng như vậy nữa. Tất cả cơn đam mê đã lìa khỏi tâm của con rồi. Xin Thế Tôn rủ lòng bi mẫn thâu nhận con vào ni đoàn của ngài.

Đức Phật mỉm nụ “tiếu sanh tâm” nhè nhẹ gật đầu:

- Đoàn thể tăng ni của Như Lai sâu rộng như biển lớn. Bao nhiêu con sông như Gaṅgā, Yamuna, Aciravati, Sindhu, Godhavati – tất cả chúng đều chảy vào biển, trộn chung, tan hòa lại với nhau, chẳng còn phân biệt nước của con sông này với nước của con sông kia, tất cả chỉ còn một tên gọi chung là biển. Cũng vậy, Như Lai không phân biệt người thấp hèn hay cao sang, chủng tộc, giai cấp hay xứ sở, ai cũng có thể bước vào đoàn thể tăng ni của Như Lai được cả. Khi vào, tất cả những gì khác biệt trước đây đều tan biến, mọi người cùng sống với nhau như con chung một cha, là huynh đệ, là tỷ muội trong một đại gia đình yêu thương và bình đẳng. Tất cả đều trở thành là “Con của Phật”, là Phật tử hay Thích tử. Bởi vậy, không có gì cản trở con gia nhập giáo chúng ni đoàn.

Thế rồi, cô được gia nhập ni đoàn và không lâu sau đó tỳ-khưu-ni Prakirti trở thành một vị A-la-hán.

Tin đồn về đức Phật thâu nhận một cô gái hạ tiện vào ni đoàn lan rộng ra khắp nơi nhanh như gió thổi. Tất cả giới tướng lãnh, bà-la-môn, phú gia và quý tộc của kinh thành Sāvitthi thảy đều bàng hoàng, rúng động. Họ tự hỏi làm sao một phụ nữ hạ tiện, khi trở thành ni cô, có thể đi vào nhà của một người sinh ở giai cấp trên trước; làm sao một người sinh ở giai cấp trên trước có thể đến gần “cô ni” ấy, làm sao “cô ni” ấy có thể nhận thức ăn khất thực từ người sinh ở giai cấp cao hơn?

Họ đến thưa chuyện với đức vua Kosala. Đức vua khen thầm thái độ quang minh chính đại của Phật khi ngài muốn phá bỏ hàng rào các giai cấp, tôn trọng sự tự do và bình đẳng, nhưng cũng cùng với một đoàn tùy tùng gồm những người thuộc giai cấp thượng đẳng thân hành đến bái yết ngài.

Đức Phật gọi tỳ-khưu-ni Prakirti, đại đức Ānanda và tất cả tăng ni đến quanh ngài, rồi ngài hỏi vua và mọi người có muốn nghe kể chuyện kiếp trước của Prakirti không. Ai cũng muốn nghe.

Rồi đức Phật bèn kể:

“Trong một kiếp quá khứ, bên bờ sông Gaṅgā, có một vị thủ lãnh giai cấp hạ tiện tên là Trishanka. Ông ta có một người con trai tên là Shardula Karna dung mạo tuấn tú, kiến thức sâu rộng, học hết ba bộ kinh Vệ Đà. Khi thanh niên ấy đến tuổi lập gia đình, người cha đến nhà người bà-la-môn có tên là Pushkaar Shari để cầu hôn con gái ông ta cho con trai của mình. Người con gái ấy tên là Prakirti. Người bà-la-môn tức giận, cho việc cầu hôn ấy là một sự lăng mạ, sỉ nhục. Người thủ lãnh giai cấp hạ tiện cố gắng đem hết lý lẽ ra để giải thích rằng phân biệt giai cấp như vậy là không đúng, ai cũng là con người cả. Người cha bà-la-môn Pushkaar Shari lấy làm hài lòng bởi lời giải thích có lý có tình, đúng với sự thật của vị thủ lãnh nên chấp thuận gả con gái của mình cho con trai của ông ta.

Cô thiếu nữ Prakirti xinh đẹp của người bà-la-môn giai cấp thượng lưu kia bây giờ chính là tỳ-khưu-ni Prakirti bây giờ đây. Con trai của vị thủ lãnh giai cấp hạ tiện, hiện nay chính là Ānanda. Và, Như Lai chính là thủ lãnh Trishanka giai cấp hạ tiện của kiếp trước đó vậy”.

Sửng sốt, ngạc nhiên và thú vị bởi câu chuyện hay, đức vua Kosala và tùy tùng lãnh hội được bài học, đảnh lễ Phật rồi ra về.



(Có thể tìm đọc nguyên bản tiếng Anh trong – Buddha’s Constant Companion ‘Chapter Three’).





Chú thích:

(1) Chiên-đà-la là hạng người ở tận đáy xã hội – họ bị khinh bỉ, bị xua đuổi không khác gì thú vật; cả 4 giai cấp bà-la-môn, sát-đế-lỵ, vệ-xá, thủ-đà-la sử dụng họ như bọn nô lệ…

(2) Ý cô gái muốn nói, 4 giai cấp xã hội là cao quý, cao sang – còn cô không được phép ở trong một giai cấp nào cả, là kẻ nô lệ, là hạng thấp hèn nhất, nếu được gọi là giai cấp thì là giai cấp hạ liệt nhất.

(3) Là giai cấp bà-la-môn (tu sĩ, các giáo chủ, các thầy tư tế); sát-đế-lỵ (vua chúa, tướng lãnh, chiến sĩ); vệ-xá (thương gia, chủ nghiệp đoàn, giai cấp thợ thầy các ngành nghề…); riêng thủ-đà-la là giai cấp lao động chân tay).

(4) Đa phần bà-la-môn mới kỳ thị khắc nghiệt như thế – con ba giai cấp còn lại cũng chừng mực thôi.

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Kính ngưỡng Cuộc đời và Hành trạng của Đại lão Hòa Thượng Thích Hộ Giác



Xin thành kính hướng về Chùa Pháp Luân
Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ
Một bậc Tôn Túc lỗi lạc của Phật Giáo
Đã rũ áo ra đi
Để Tăng Ni, Tín đồ trong nước ngoài nước
Thầm rung rung cảm cảm
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài
Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện
Kiếp tu hành 81 năm của Ngài
Gánh vác hy sinh, đã vẹn chưa bản hoài
Vào nhà Như Lai
Chỉ một con đường phụng mạng Như Lai
Chúng sinh thị khổ
Hàng Trưởng Tử Thích Tôn phải lên đường cứu khổ
Đất nước Việt Nam
Trải qua bao nhiêu gọng kềm nghiệt ngã
Dân tộc Việt Nam
Hứng chịu bao nhiêu tai ách nhiễu nhương
Phật Giáo Việt Nam
Đồng cam cộng khổ thống thiết khôn lường
Bởi, Dân Tộc và Phật Giáo
Phật Giáo và Dân Tộc
Hòa quyện cùng nhau
Tuy một mà hai
Tuy hai mà một
Gọng kềm kia
Xanh đỏ đỏ xanh, đẩy đưa thí chốt
Tai ách kia
Thực xâm xâm thực, trao đổi kết bè
Việt Nam là một trong những vị trí đắp be
Bằng da thịt và máu xương
Bằng khổ đau và nước mắt
Lịch sử Việt Nam 5000 năm
Dòng giống Lạc Hồng bất khuất
Lịch sử Phật Giáo 2000 năm
Truyền thừa kế thế tinh anh
Ba Miền đất nước chưa thong dong mây trắng trời xanh
Thì Phật Giáo Việt Nam chưa tự tại thõng buông bỏ ngỏ
Không vì bất cứ lý do gì
Nhắm mắt, buông tay, chối bỏ
Không vì bất kỳ hoàn cảnh nào
Ngoảnh mặt, quay lưng, chối từ
Vọng ngoại ư !
Vong bản ư !
Buôn dân ư !
Bán nước ư !
Phật Giáo không chấp nhận
Nên phải luôn đương đầu và gánh chịu
Bởi Phật Giáo
Không chạy theo Xanh Đỏ Sữa Bơ dư thừa cặn bã
Hộ là hộ quốc hộ dân:
Độc lập, tư do, nhân bản, thái hòa
Giác là giác đạo giác đức:
Việt Nam sông núi gấm vóc đơm hoa
Ngài đã tận tụy cả một đời
Rạng danh Thiền gia Thích tử
Địa vị, kể cho tột, chắc bằng thừa ngôn ngữ
Công hạnh, nói cho liễu, chắc không đủ tư duy
Cuộc đời của Ngài biểu trưng:
Đức độ, khiêm cung, hòa ái, rợp bóng uy nghi
Nghiêm mà không nghị, nhu mà nhiếp cương
Lò cừ thế gian làm sao sánh nổi
Dòng Thích Tử đã luyện tôi thế ấy
Cõi phù sinh vá nhuộm áo nâu sồng
Đỡ Đạo Pháp sừng sững với sắc không
Mang tâm lực uy nghi cùng vũ trụ
Tinh tú kia chỉ có một vì sao Bắc Đẩu
Thiên hà kia chỉ có một ánh Thái Dương
Với Phật Giáo, trong vạn pháp là Pháp Vương
Có thì có tất cả
Mà không thì lông rùa sừng thỏ
Nhập thế vì đời nên cái gì cũng có
Có lịch sử
Có cơ đồ
Có gấm vóc
Có giang sơn
Không ai có quyền sỉ nhục, thúc ép, trùm mền
Không ai có quyền phủ chụp, man khai, dối trá
Hàng Thích Tử, tâm là tâm kim cương
Trí là trí kim cương, nào nghĩa gì gỗ đá
Mộng huyễn bào ảnh ư, ngọn cỏ gác đầu sương
Vọng ảo vô minh ư, đom đóm thắp đêm trường
Hộ là hộ tận quần mê
Giác là giác cùng tánh thể
Hôm nay
Ngài quay gót về Tây, thăm lại nhà xưa một thuở
Thăm Đức Như Lai, thăm Chư Bồ Tát, Tổ Sư
Sớm trở lại cõi Ta Bà, địch thị đất nước Việt Nam
Tiếp tay tiếp sức cùng hàng Pháp Lữ đệ huynh
Không những một kiếp hai kiếp
Mà cho đến khi nào
Bản nguyện bản hoài của chúng ta hoàn toàn viên mãn.



Chùa Pháp Quang, Brisbane, Úc Châu, ngày 08-12-2012
Thích Nhật Tân kính bút
www.phapquang.com.au 

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

THÁNH CẦU (MINH THIỆN)



Vì sao người ta chọn nếp sống xuất gia và xuất gia như vậy là để tìm cầu điều gì? Thỉnh thoảng, Đức Phật cũng nêu câu hỏi tương tự cho các đệ tử mình nhằm nhắc nhở các Tỷ-kheo phải luôn nhớ đến chí nguyện và mục đích xuất gia để nỗ lực tinh tấn tu học: 
“Này các Tỷ-kheo, các Thầy không vì mệnh lệnh của vua mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Thầy không vì mệnh lệnh của kẻ ăn trộm mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Thầy không vì nợ nần… không vì sợ hãi… Các Thầy không vì mất nghề sinh sống mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng có phải với tư tưởng như sau: ‘Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này’ mà các Thầy khởi lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn” (1).

Chúng ta biết rằng xuất gia hay “đi tu” tức là chấp nhận sống nếp sống độc thân, không gia đình, không vợ con quyến thuộc, không tài sản sở hữu, nuôi sống chủ yếu dựa vào niềm tin và hảo tâm của người khác, dành trọn thời gian cho việc học tập và thực hành đạo lý giác ngộ của Phật nhằm mục đích đoạn tận khổ đau sinh tử luân hồi hay chứng đắc Niết-bàn. Vì sao mà có quyết định như vậy? Nói cách khác, vì sao người ta không bằng lòng với đời sống hạnh phúc gia đình mà quyết định chọn lối sống xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình? Hẳn là phải có sự khác biệt căn bản trong hai lối sống như vậy? Đức Phật cho chúng ta câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về vấn đề này. Trong bài kinh Thánh cầu (Ariyapariyesanasutta) thuộc tuyển tập Trung Bộ, Đức Phật kể lại lý do xuất gia và kinh nghiệm giác ngộ của Ngài – những suy nghĩ ưu tư sâu sắc của Ngài về sự luẩn quẩn khổ đau không lối thoát của đời sống gia đình khiến Ngài quyết tâm xuất gia tìm kiếm con đường giải thoát khổ đau, nhờ đó Ngài đã đạt được mục đích giác ngộ. Với tri kiến của bậc giác ngộ, Ngài gọi đời sống gia đình, tìm kiếm lạc thú thế gian là phi Thánh cầu (anariyapariyesanà) và sự quyết tâm xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, không tham muốn dục lạc là Thánh cầu (Ariyapariyesanà), cùng với những lời giải thích ý nhị về hai lối sống này:


“Này các Tỷ-kheo, có hai sự tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là phi Thánh cầu?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh… tự mình bị chết… tự mình bị sầu… tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sanh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sanh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sanh; dê và cừu là bị sanh; gà và heo là bị sanh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sanh; vàng và bạc là bị sanh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy bị sanh, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng; tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh. Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị già? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị già; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị già; dê và cừu là bị già; gà và heo là bị già; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị già; vàng và bạc là bị già. Này các Tỷkheo, những chấp thủ ấy là bị già, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng; tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già. Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị bệnh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị bệnh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị bệnh; dê và cừu là bị bệnh; gà và heo là bị bệnh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị bệnh. Này các Tỷkheo, những chấp thủ ấy là bị bệnh, và người ấy lại nắm giữ tham đắm, mê say chúng; tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh. Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị chết? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị chết; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị chết; dê và cừu là bị chết; gà và heo là bị chết; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị chết. Này các Tỷkheo, những chấp thủ ấy là bị chết, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng; tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết. Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sầu? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sầu; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sầu; dê và cừu là bị sầu; gà và heo là bị sầu; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sầu. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị sầu, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng; tự mình bị sầu lại tìm cầu cái bị sầu. Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị ô nhiễm? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị ô nhiễm; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị ô nhiễm; dê và cừu là bị ô nhiễm; gà và heo là bị ô nhiễm; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị ô nhiễm; vàng và bạc là bị ô nhiễm. Và này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng; tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là phi Thánh cầu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niếtbàn; tự mình bị bệnh… tìm cầu cái không bệnh… tự mình bị chết… tìm cầu cái bất tử… tự mình bị sầu… tìm cầu cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu.
Này các Tỷ-kheo, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta tự mình bị sanh, lại tìm cầu cái bị sanh; tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già; tự mình bị bệnh, lại tìm cầu cái bị bệnh; tự mình bị chết, lại tìm cầu cái bị chết; tự mình bị sầu, lại tìm cầu cái bị sầu; tự mình bị ô nhiễm, lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Tại sao Ta, tự mình bị sanh, lại tìm cầu cái bị sanh; tự mình bị già… tự mình bị ô nhiễm, lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niếtbàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, hãy tìm cầu cái cái không già… tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị bệnh, hãy tìm cầu cái không bệnh… tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị chết, hãy tìm cầu cái bất tử… tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sầu, hãy tìm cầu cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ.
Này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha và đến tại tụ lạc Uruvela. Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: “Thật là vừa đủ để tinh tấn”.
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và trí và kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa” (2).

Như vậy, Đức Phật đã phân định cho chúng ta rõ thế nào là phi Thánh cầu (anariyapariyesanà) và thế nào là Thánh cầu (Ariyapariyesanà). Qua đó, Ngài đã nêu rõ sự luẩn quẩn khổ đau của đời sống gia đình bị trói buộc bởi tập quán mê đắm dục lạc và sự sáng suốt an lạc của đời sống xuất gia không còn bị tham ái và dục vọng chi phối. Lời Phật cũng là câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về lý do và mục đích của việc xuất gia. Xuất gia là quyết tâm xa lìa mọi trói buộc dính mắc của đời sống thế gian, tức rời bỏ tâm tham ái đối với những gì bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm để tìm kiếm cái không bị sanh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết, không bị sầu, không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Đây là hướng đi của thái độ suy tư chín chắn và sâu sắc về bản chất cuộc đời, bước ngoặt của tâm thức cần cầu giải thoát, xả ly ái thủ, tức sự quyết tâm rời bỏ các ham muốn dục lạc, rời bỏ tâm ái luyến đối với mọi đối 
tượng thuộc bản chất sinh diệt, do nhận thức rõ tính chất bất an khổ não của chúng. Chính vì mục đích cao quý như vậy (Thánh cầu) cho nên Đức Phật khuyên người xuất gia cần phải luôn luôn tự nhắc nhở mình:



Đệ tử bậc Chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt. (3)

“Ái diệt” là đồng nghĩa với khổ diệt, đồng nghĩa với việc thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, do không còn ái luyến đeo bám vào những gì bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm; do đó cũng được gọi là chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách hay đạt đến Niết-bàn.

Chú thích:

1. Đại kinh Thí dụ lõi cây, Kinh Càtuma, Kinh Nalakapàna, Trung Bộ.

2. Kinh Thánh cầu, Trung Bộ.

3. Kinh Pháp cú, kệ số 187.

VẬY RỒI



vậy rồi... gì cũng sau lưng
buồn vui chi mấy
cũng chừng ấy thôi
cũng năm tháng cũ qua rồi
cũng ngày tháng mới...
đợi tôi trước thềm
vậy rồi...
đời có chi thêm
có tôi sinh tử
có em luân hồi
có niềm vui để mỉm cười
có niềm đau để con người học khôn
bình minh rồi lại hoàng hôn
vậy rồi...một buổi người chôn xác người
lợi danh vinh nhục một đời
đến ngày bạc tóc
vậy rồi phủi tay...

Kyaikhtiyo, buổi khuya hay tin thầy mất (Dec/7/2012)

Kính niệm ân sư


CỎ ÚA CÒN THƠM
Xứ Miến Điện những ngày nắng nóng như thiêu. Đi đâu cũng thấy bụi và rác, điều kiện sinh hoạt luôn dưới mức nhu cầu. Suốt mấy ngày dài không sao liên lạc được với bất cứ ai. Cả phone hay Email đều không dùng được. Đêm đó, tôi về đến núi Kyai Hti Yo mới thấy có Wifi, chuyện đầu tiên là tìm vào một góc khuất để đọc email. Tôi như không tin vào mắt mình. Thầy mất rồi. Ba cái email liên tục, người quen nhắn cho tôi cái tin dữ đó. Cũng hệt như hồi mẹ mất hai năm trước, khi biết thầy mất rồi, dòng suy nghĩ đầu tiên của tôi là nhớ về những lầm lỗi của mình với người vừa ra đi, về những gì tôi đã làm và không chịu làm.  Tôi luôn tiếc thương một người bằng cách đó.
Vậy là những người thương tôi nhất hay tôi thương nhất đã lần lượt rủ nhau đi sạch rồi sao ? Tôi thèm được khóc, nhưng ở tuổi này làm gì còn nước mắt sau những cay đắng tình đời của hơn nửa kiếp lênh đênh vui ít buồn nhiều. Cái kiểu đau không nước mắt cũng độc địa như bị xe tông mà không chịu chảy máu.
Ngài Hộ Giác và Sư Giác NguyênBao nhiêu hồi ức về thầy bỗng tràn về cùng lúc như để đánh gục tôi cho bằng được. Thầy ơi. Con cứ muốn gọi hoài hai chữ đó và mong thầy ở phương nào  nghe được tiếng gọi muộn màng của con. Đời con, thứ gì cũng lỡ làng  thầy biết rồi phải không. Cứ một đời ăn năn, ăn năn với Phật, với mẹ, rồi hôm nay với thầy. Cũng như ngày xưa đã không ít lần với những tấm lòng mà xa rồi con mới hiểu.
Giỏi mà không kiêu, làm nhiều mà không tính công, thiết tha với đạo mà một đời cơ hồ như sống toàn nghịch hạnh để người ở gần chỉ thấy ấm chứ không nóng, chỉ thấy mát chứ không phải lạnh. Nếu phải nói về thầy bằng vài chữ, con không biết nói gì khác hơn.
Một đời thầy chỉ có ba chuyện để theo đuổi. Làm cái gì đó cho dân tộc, cho chánh pháp, và trao ra đạo tình nồng hậu chân thành với bất cứ ai thầy gặp. Thầy một đời  luôn là cầu nối để hàn gắn, hoà giải, kết nối cho những phân ly xung đột của bao người thiên hạ. Chuyện gì đó ngoài ra, chỉ mong người đời xem như điều phải có ở hoàn cảnh thuyền to thì sóng phải lớn, vậy thôi.
Con chưa bao giờ lên tiếng nhờ cậy thầy về tài vật, nhưng biết con nghèo, suốt nhiều năm trời, gặp mặt, thầy chỉ nhắc một câu. Cần gì thì nói, đặc biệt cứ muốn in ấn cái gì cứ về níu áo thầy. Thầy ơi, con chưa kịp níu áo thì thầy đã đi xa rồi. Cuốn sách con in cuối đông năm này chỉ còn kịp ghi một dòng lạc khoản như là thầy đang nhìn thấy.
Từ xứ nóng rực lửa, không thể đổi vé bay để về Mỹ chịu tang thầy, tôi ghé về đôi hôm ở một phương trời lạnh đầy tuyết để suốt hai buổi khuya nằm đọc online theo dõi tin tức về tang lễ của thầy. Chỉ ước mình có phép lạ để kịp về chạm tay vào đôi bàn chân lạnh giá của thầy lần cuối mà tôi hiểu là suốt đời này không còn cơ hội nào nữa. Ngọn lửa hỏa thiêu sẽ đưa thầy rời khỏi chăn chiếu giường đời và từ giờ hình bóng đó chỉ còn là chút gì  trong hồi ức những người từng hiểu và thương thầy.
 Vậy là mai này nếu có dịp về lại chùa cũ của thầy xưa, tôi sẽ chẵng bao giờ còn được hầu thầy trong những buổi trà sớm như hồi nào để nhiều khuya nghe đâu đó bên ngoài tiếng nói của thầy với ai: Nhẹ tay một chút cho ổng ngũ. Có hôm nghe vậy thương lắm mà cứ lười biếng ngũ vùi. Nhưng đến bữa cháo sáng thì thầy cứ lớn tiếng gọi vì không muốn tôi phải ăn nguội một mình.
Trong giới Nam Tông Việt Nam, thầy là ông vua chữ Phạn. Gặp chỗ khó hỏi thầy, thầy trả lời không thèm giở sách. Thầy biết rất nhiều kiểu ngâm ngợi kệ ngôn tiếng Phạn, nghe sướng tai như nghe người ta hát. Nhiều đêm đã khuya, từ phòng ngoài nghe tiếng thầy đọc kinh bên trong, tôi cứ cảm giác như thầy đang ru cho chúng tôi ngũ bằng cái âm điệu xa vời mộng mị của một xứ Cổ Ấn thời Phật còn ở đời mấy ngàn năm trước. Bây giờ thầy xa rồi, gì cũng hết. Dãy phòng đó với tôi bây giờ không chỉ là kỷ niệm, mà còn là một nổi đau ray rức một đời.
Sương đã tan mất, mây đã bay đi, đoá hoa đã rụng. Một đêm choàng tỉnh mới hay thầy cũng đã ra đi. Tiếng lá khô rơi xuống bên thềm khuya nghe hệt như tiếng chân thầy về. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trên vách như nhắc con nhớ rằng thời gian đang đi qua. Mọi thứ ở đời chỉ là những phiêu vật phù du trên một dòng chảy không ngừng. Người đến rồi đi, ai cũng vậy thôi, có khác chăng là trước giờ rũ áo lên đường ta đã kịp để lại cho nhân gian chút gì để nhớ hay không. Tên thầy đáng được đặt cho một con đường nào đó ở Việt Nam mai này, cho cả một học viện Phật giáo nào đó để hàng hậu học đời sau còn dịp biết rằng ngày xưa trong Phật giáo Việt Nam từng tồn tại một cái tâm, cái tài cỡ vậy.
Hồi ôn Từ Đàm mất, ni sư Trí Hải có viết bài Đàm Hoa Lạc Khứ để khóc. Khi con viết mấy chữ này, rất muốn dùng lại cái tựa đề đó, mà thôi, cỏ héo còn thơm vậy. Ni sư một nửa, con một nửa, chia nhau hai câu cổ thi mà người xưa nào đó đã viết để khóc tiền bối. Ừ thì đoá hoa quý hay một nhánh cỏ thơm dù có khô đi, có rụng xuống ít nhiều gì cũng còn đôi phút lưu hương. Thầy cũng là một đoá Ưu Đàm, một nhánh cỏ Lan Chi. Luật vô thường chỉ có thể mang xác thầy đi, nhưng không sao làm phai được mùi hương của nhân cách thầy trong lòng người ở lại. Con không muốn bắt chước người ta mong thầy hội nhập Ta Bà để hoá độ chúng sinh gì đó trong thời mạt pháp này cho thêm nhọc sức, chỉ mong thầy luôn nhẹ bước thong dong ở bất cứ phương trời nào thầy muốn và phải.
Nay khấp bái.
Nowhere, Dec/15/2012
苾草凋殘猶未死
曇花落去有餘香

Bật thảo điêu tàn do vị tử
Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương
Pháp tử Toại Khanh

Đạo Từ của TTTuệ Siêu trong lễ tưởng niệm ĐỨC PHÓ TĂNG THỐNG ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG THÍCH HỘ GIÁC



Ngày 6-12-2012 tại Lớp Học Phật Pháp Buđdhadhamma / Minh Hạnh chuyển biên

Namo Buddhaya

Tất cả chúng ta không khỏi ngậm ngùi khi một Đại Thụ Tùng Lâm của Chư Tăng Phật tử đã ngã xuống, việc nên làm của chúng ta giờ đây ngoài sự cung kính tiếc thương chúng ta còn phải biểu hiện lòng tri ân báo ân một bậc Thầy khả kính, nhưng trên hết với sự tri ân báo ân đó phải được thể hiện bằng hành động cụ thể của mình. Khi chúng ta tri ân Đức Phật, tri ân Giáo Pháp, tri ân Chư tăng là chúng ta phải sống nương tựa nơi Đức Phật, Giáo Pháp và Chư Tăng để chúng ta thực hành những điều mà Đức Phật Ngài dạy. Cũng như khi chúng ta tri ân bậc Thầy, chúng ta phải gìn giữ truyền thống của bậc Thầy. Cả đời Ngài Hoà Thượng đã sống cho Phật Pháp, khi xưa Ngài là vị Đại Pháp Sư đã thuyết giảng giáo pháp để cho tất cả những người cư sĩ được nghe và được hiểu Phật Pháp, và cho đến lúc tuổi già sức yếu nhưng Ngài cũng thường dạy bảo nhắc nhở Chư Tăng hoặc là Phật tử. Những lời pháp nhũ của Ngài cũng như đức tánh cao qúi của Ngài là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo.

Đức Phật đã dạy rằng:

Pariji.n.namida.m ruupa.m rogani.d.dha.m pabha'ngura.m
Bhijjati puutisandeho mara.nanta.m hi jiivita.m.

Sắc này bị suy già,
Khổ bệnh tật mỏng manh
Nắm hôi thúi đổ vỡ
Chết chấm dứt mạng sống.

Ngậm ngùi tiếc thương bậc đức cao trọng vọng là bậc Đại Ân Sư của chúng ta ra đi chúng ta càng phải khắc ghi trong lòng những ý nghĩa Phật ngôn mà Đức Phật đã dạy: Thân xác này do tứ đại hợp thành sẽ bị suy già, thân này là bệnh tật, mỏng manh.

Chính Ngài Hòa Thượng cũng đã già, Ngài cũng mang những chứng bệnh trong người và cuối cùng thì theo định luật vô thường không ai tránh khỏi, đó là sự chết, kết thúc mạng sống. Chúng ta dù có khóc, chúng ta cũng không thể nào làm thay đổi định luật vô thường đó. Chỉ khi nào chúng ta có sự nỗ lực cố gắng để chúng ta tu tập vượt thoát sự luân hồi này thì chúng ta mới không còn chứng kiến cảnh phân ly tử biệt.

Nhớ lại khi xưa, năm Đức Thế Tôn 79 tuổi, hai đệ tử đầu tay của Ngài là Tôn Giả Xá Lợi Phất và Tôn Giả Mục Kiền Liên cùng với một vài vị để tử khác xin phép Đức Thế Tôn để viên tịch, bởi các Ngài biết là việc phải làm và nên làm, và các Ngài viên tịch trước bậc Đạo Sư. Buổi chiều hôm ấy khi Đức Thế Tôn đi vào giảng đường thuyết pháp giáo giới cho chúng tỳ kheo, Ngài đưa mắt nhìn hội chúng như cái nhìn của một tự thú đối với đàn đệ tử và Ngài bảo rằng:

"Này Chư Tỳ Kheo, hôm nay Như Lai cảm thấy hội chúng tỳ kheo trống vắng."

Đến nỗi Đức Thế Tôn là bậc Pháp Vương mà Ngài đứng trước cảnh vô thường như vậy và Ngài đã thốt lên lời nói đó.

Cho nên định luật vô thường này chúng ta cần phải biết rằng: Có một pháp không phải riêng cho làng, cho một thị trấn, cho một quốc độ hay cho một gia đình gia tộc nào, mà pháp đó chung cho nhân loại, cho Chư Thiên, Phạm Thiên, cho tất cả chúng sanh, đó chính là pháp vô thường"

Thế Tôn đã dạy như thế. Những phước báu nào mà chúng ta đã tu tập được chúng ta hãy hướng nguyện những phước báu ấy để hồi hướng đến bậc Đại Ân Nhân của chúng ta, đến bậc Thầy cao quí, Đức Đại Lão Hòa Thượng Hộ Giác. Kính nguyện phước này sẽ trợ duyên cho Ngài. Ngài sẽ tùy hỉ phước của chúng ta sau khi Ngài tái sanh về cảnh giới an lạc, cảnh giới Chư Thiên, Ngài hãy tăng thêm phước thọ và tiếp tục sau khi ở cảnh giới Chư Thiên sanh lại làm người tiếp tục đạo lộ hành trình giải thoát ngay bình sinh Ngài đã có tâm nguyện.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật .

Lễ Trà Tỳ Cố Đại Lão HT Thích Hộ Giác



Sau khi làm lễ tưởng niệm công hạnh Đại Lão HT Thích Hộ Giác – Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thuỷ Việt Nam, cung tống kim quan đến nhà quàn Vĩnh Phước làm lễ trà tỳ.



Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012
Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012 

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012


Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012



Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Lễ Trà Tỳ - 16-12-2012

Tháp Đựng Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác
Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác
Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Mảnh Xương Trán Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác Có Chữ Pali

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Chư Tăng đang chuẩn bị thỉnh Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác về Chùa Pháp Luân

Chư Tăng đang chuẩn bị thỉnh Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác về Chùa Pháp Luân

Chư Tăng đang chuẩn bị thỉnh Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác về Chùa Pháp Luân

Chư Tăng đang chuẩn bị thỉnh Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác về Chùa Pháp Luân

Chư Tăng đang chuẩn bị thỉnh Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác về Chùa Pháp Luân

Chư Tăng đang an vị Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Chư Tăng đang an vị Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Chư Tăng đang tụng kinh an vị Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Chư Tăng đang tụng kinh an vị Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Chư Tăng đang tụng kinh an vị Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác

Chư Tăng đang tụng kinh an vị Xá Lợi Của Ngài Cố Tăng Thống Thích Hộ Giác