Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Học viện Phật giáo quốc tế Sitagu ở Miến Điện




Người viết có dịp viếng thăm Học viện Sitagu do Hoà thượng (HT) Pháp sư Nyanissara sáng lập vào tháng 12 năm 2006 với một số Tăng Ni ở trường thiền Shwe Oo Min. Đây là một trong những cơ sở học thuật có nhiều triển vọng, đặc biệt khi thủ đô Miến Điện được dời về Mandalay. Diện tích của Học viện không lớn lắm nhưng khá lý tưởng vì nằm dưới chân đồi Sagaing - một trong những thắng tích chính của khu vực. Đứng dưới chùa nhìn lên là Đại Tháp uy nghiêm của đồi Sagaing, bên cạnh là nhà thương miễn phí dành cho mọi Tăng Ni do Hòa thượng đứng ra vận động và chịu trách nhiệm.
SIBAHall
Học viện Phật giáo quốc tế Sītagū, Sagaing, Myanmar
(Sītagū International Buddhist Academy)
Ven.Nyanissara
Hoà thượng Pháp sư Nyanissara - người sáng lập Học Viện Phật Giáo Quốc Tế Sītagū
Như tên gọi của nó: Sītagū International Buddhist Academy (Học Viện Phật Giáo Quốc Tế Sitagu), nên trong tương lai rất có thể đây là một trong những cơ sở học thuật lớn ở Miến. Rất tiếc là thời gian đoàn ở đó chỉ 2 hôm, nên bản thân tôi không tìm được thông tin đầy đủ và cũng không có thời gian tham vấn những vị phụ trách giảng dạy. Dầu vậy, môi trường ở đó như thế nào, chương trình giảng dạy ra sao,… xin lược ghi những gì đã biết để chia sẻ vậy.
I. CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ MÔI TRƯỜNG
Nhìn chung, cơ sở vật chất khá khang trang. Các phòng ốc và lớp học đã khá hoàn bị. Chính giữa chùa là Đại Tháp theo mô hình tháp Sanchi ở Ấn Độ. Giảng đường, phòng học và khu chung cư cho sinh viên được bố trí xung quanh theo mô hình chữ nhật hướng tâm khá đẹp.
Một góc Học Viện Phật Giáo Quốc Tế Sītagū
Tạm thời Tăng sinh ngoại quốc và Miến được bố trí ở chung. Mỗi phòng trên dưới 10 vị. Bên cạnh đó có những dãy lầu có khoảng 60 phòng đơn, rất tiện nghi, khang trang, dành cho giáo thọ sư và những vị học cấp Cao học trở lên. Hệ thống phòng thính thị khá lớn, trên cả 100 máy vi tính, nhằm tạo điều kiện tối đa cho Tăng sinh học Anh văn. Thư viện tương đối rộng, có một số sách căn bản, nhưng nguồn tài liệu thật sự chưa phong phú đối với một nghiên cứu sinh.
Thời tiết ở Sagaing vào mùa đông lạnh hơn ở Yangon, nhưng cũng không lạnh như ở Bắc Delhi, Ấn Độ. Nhìn chung, thời tiết và cơ sở vật chất lý tưởng cho môi trường học tu đối với một tu sĩ khép mình.
II. TIÊU CHUẨN ĐỂ NHẬN SINH VIÊN
Theo cách trình bày của vị điều hành nội vụ Học Viện, mọi đối tượng đều được nhận, không phân biệt Tăng tục, truyền thống, quốc gia, giới tính và tuổi tác. Hiện nay có một số nữ cư sĩ của vài nước khối Âu châu tham học, nhưng phần lớn đều là đại thí chủ của tu viện. Trường hiện nay chưa chính thức nhận Ni giới hoặc nữ cư sĩ ngoại quốc vì phòng ốc dành cho chư Ni chưa ổn định. Riêng chư Ni Miến ở chùa ngoài gần đó đến học, hoặc những Ni ngoại quốc nào muốn học ở Học viện Sitagu tự lo chỗ ở.
Chúng tôi gặp vị Trưởng phòng Đào tạo (Registrar) của Học viện, nhưng không có thời gian để trao đổi những vấn đề cần thiết. Theo thông tin chung, mặc dầu trường chưa đi vào nề nếp thi cử tuyển sinh, nhưng những sinh viên biết tiếng Anh tương đối mới được nhận.
Tiêu chuẩn sinh viên được nhận vào tối thiểu là tốt nghiệp trung học, hoặc đã học Phật pháp căn bản ở một vài trường Phật học nào đó thì càng tốt. Hiện nay chưa có chế độ thi tuyển cụ thể, nhưng về sau chắc chắn việc này sẽ từ từ đi vào nề nếp. Đối với các sinh viên đã có bằng diploma hoặc tốt nghiệp cử nhân ở Yangon đều có thể đến Sitagu học tiếp mà không cần thi cử gì cả.
Về phương diện học phí, các sinh viên không cần phải đóng bất cứ loại phí gì, nhưng nếu có điều kiện cúng dường hoặc kêu gọi Phật tử hỗ trợ cho Học viện vẫn là điều cần thiết. Vì nhà trường không nhận tài trợ của chính phủ, chỉ nhận từ các tổ chức từ thiện phi chính phủ hoặc các Phật tử tín thành dâng cúng mà thôi.
Về thủ tục visa, sinh viên hoàn toàn tự làm lấy. Học viện chỉ có thể cấp giấy giới thiệu, nhưng mọi thủ tục hành chánh mình phải tự lo, giống như đại học ở các nước khác vậy. Điều này có thể gây trở ngại đối với một vài vị, bởi lẽ phần lớn tân Tăng Ni sinh không rành cơ cấu hành chánh ở Miến, hộ chiếu bị giam quá lâu ở các bộ, nên khi có việc khẩn cấp cần về nước thì không có hộ chiếu mà về.
Có một số sinh viên Việt Nam học tại Học viện này khi chưa chính thức trúng tuyển vào Trường Đại học Phật giáo Quốc tế ở Yangon, nhưng đến khi ổn định được các trường khác tiếp nhận, thì hầu như các vị đều xin chuyển trường. 
III. CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Vì là cơ sở mới nên chương trình học chưa ổn định. Giống như các học viện non trẻ khác, giáo trình sẽ được bổ túc, cải cách cho đến khi nó được hoàn chỉnh. Dầu vậy, nhìn chung giáo trình này thoáng hơn, và ở một góc độ nào đó, nó có hệ thống hơn Đại học Phật giáo ở Yangon. Điều này cũng là lẽ tất yếu, thứ nhất là mang tính kế thừa, thứ hai là hoạt động độc lập, tham khảo nhiều chương trình học Phật pháp ở các nước khác, trong khi đó ở Yangon nhắm đến đào tạo các sứ giả hoằng pháp theo truyền thống Phật giáo Nam truyền, nên những tư tưởng của Phật giáo Đại thừa không phải là vấn đề Giáo hội và Chính phủ nhắm đến.
Các vấn đề như truyền giới thuộc truyền thống Phật giáo Đại thừa, truyền giới Tỳ-kheo-ni, lịch sử và triết học Phật giáo Đại thừa và những thông tin cần thiết liên quan đều được đem ra thảo luận và giảng dạy. Rất có thể tất cả những vấn đề trên chưa hẳn là sở trường của giáo thọ sư ở Học viện Sitagu, nhưng dầu sao Học viện cũng có kiến thức tổng quát về Phật giáo các nước. Người viết xin lược dịch giáo trình để chúng ta cùng tham khảo về Học viện này.
Chư Tăng trong giờ học tại Học Viện
Lưu ý là trên văn bản chúng ta không thấy phân chia rõ ràng về chương trình diploma và cử nhân, chỉ thấy đề 4 năm cử nhân, nhưng trên thực tế để cho đồng nhất với vài trường ở Miến, nên Học viện vẫn nói với sinh viên là 2 năm đầu là tiền đại học (Diploma) và 2 năm sau mới chính thức cử nhân (B.A).
Theo giáo trình, có tất cả 9 môn, 6 môn chính và 3 môn phụ. Sáu môn chính gồm: (1) Luật, (2) Kinh, (3) Luận, (4) Pháp hành, (5) Pali - Sanskrit, và (6) Anh văn. Ba môn phụ gồm: (1) Lịch sử Phật giáo, (2) Văn hoá và Nghệ thuật Phật giáo, và (3) Triết học. Tất cả 9 môn này được phân phối trong 4 năm, mỗi năm học 8 tháng. Thời gian khai giảng cũng giống như Đại học Phật giáo ở Yangon hay ở các trường phổ thông bên ngoài, khoảng đầu tháng 6 dương lịch. Chương trình như sau:
NĂM THỨ NHẤT
1. VINAYA (LUẬT)
(A) Giới thiệu về luật học (Vinaya)
(B) Các lễ truyền giới của Phật giáo
(C) Năm chúng Phật giáo (sahadhammika, tức là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di và Sa-di-ni) và mối liên hệ của 5 chúng
(D) Tứ vật dụng (nissaya) và sử dụng đúng cách như thế nào
(E) Tám nhu yếu (parikkhāra) của một Tỳ-kheo và làm thế nào sử dụng các nhu yếu này hợp cách. Đặc biệt tìm hiểu về y, bát, trú xứ và thuốc men.

2. SUTTANTA (KINH)
(A) Giới thiệu về Suttanta
(B) Các bài kinh về cuộc đời Đức Phật
(C) Các bài kinh liên hệ thiết yếu đến tu tập
3. ABHIDHAMMA (LUẬN)
(A) Giới thiệu về Abhidhamma
(B) Thắng Pháp Tập Yếu Luận (chương 1, 2 và 6)
(C) Vibhāvanī Ṭīkā về ba chương trên
4. ENGLISH (ANH VĂN)
(A) Văn phạm (Grammar)
(B) Viết đoản luận (Composition)
(C) Văn học (Literature)
NĂM THỨ HAI
1. VINAYA
(A) Yết-ma (Saṅghakamma)
(B) Giới đường (Sīma)
(C) Giới bổn (Pātimokkha)
(D) Trị phạt (Vinaya Vinicchaya)
2. SUTTANTA
(A) Các bài kinh về Nghiệp báo (Kamma) và Luân hồi (Saṃsāra).
(B) Các bài kinh về nhận thức luận
(C) Các bài kinh về nhân duyên
3. ABHIDHAMMA
(A) Thắng Pháp Tập Yếu Luận (chương 3, 4 và 5)
(B) Vibhāvanī Ṭikā về 3 chương trên
4. ENGLISH (gồm 3 phần như năm thứ nhất).
NĂM THỨ BA
1. ABHIDHAMMA
(A) Thắng Pháp Tập Yếu Luận (chương 7, 8 và 9)
(B) Vibhāvinī Ṭikā về 3 chương trên.
2. PAṬIPATTI (PHÁP HÀNH)
(A) Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga), gồm phần Giới, Định và chương 9.
(B) Các kỹ thuật Thiền Chỉ (Samatha).
3. SAMAYANTARA (TRIẾT HỌC)
(A) Triết học Ấn Độ: Vệ-đà (Veda), Áo Nghĩa Thư (Upanishad), Sankhya (Số Luận), Kỳ-na (Jainism), Trung Luận (Madhyamika) và Duy Thức Tông (Viññāṇamātratā).
(B) Triết học Tây phương
4. PALI VÀ SANSKRIT
Văn phạm (Grammar)
Viết tiểu luận (Composition)
Triết học (Philosophy)
Từ nguyên (Etymology).
NĂM THỨ TƯ
1. ABHIDHAMMA
(A) Dhammasaṅgaṇi (Pháp Tụ Luận)
(B) Paṭṭhāna (Duyên Luận hay Phát Thú Luận)
(C) Atthasālinī (Sớ giải của bộ Pháp Tụ)
(D) Sớ giải về Paṭṭhāna.
2. PAṬIPATTI (PHÁP HÀNH)
(A) Thanh Tịnh Đạo Luận: phần Tuệ (Paññāniddesa)
(B) Các kỹ thuật Thiền quán (Vipassanā) ở Miến
3. LỊCH SỬ, VĂN HOÁ VÀ NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO (BUDDHIST HISTORY, CULTURE AND ARTS)
(A) Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc, Nhật Bản, châu Á, châu Âu, phương Tây và Phật giáo Tây Tạng.
(B) Văn hoá và Nghệ thuật Phật giáo ở Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan và các nước khác.
4. PALI VÀ SANSKRIT
Gồm 4 phần như năm 3. Mặc dầu Miến ngữ không được đề cập trong chương trình, nhưng nó vẫn được giảng dạy ở Học viện cho sinh viên ngoại quốc, nhất là trong thời gian học bán chính thức.
IV. ĐỘI NGŨ GIÁO SƯ
Trong tương lai, đội ngũ giảng viên của Học viện có lẽ khá hùng hậu vì Hòa thượng nỗ lực tối đa tạo điều kiện cho đệ tử học khắp nơi. Có một số vị tốt nghiệp cao học ở Ấn Độ và đang học tại Đại học Oxford, Anh quốc, hoặc các vị tiếp tục học ở Ấn để lấy bằng tiến sĩ. Hiện nay đội ngũ giảng viên hơi khiêm tốn.
Hoà thượng Viện chủ được Chính phủ Miến tặng bằng Tiến sĩ danh dự vì công lao hoằng pháp độ sanh cũng như các công trình từ thiện to lớn mà ngay cả Chính phủ Miến cũng không lo xuể, như nhà thương miễn phí cho chư Tăng và các Phật tử nghèo, hoặc hệ thống nước uống cho toàn khu Sagaing. Tuy nhiên, Hòa thượng vì quá bận Phật sự nên đã mời HT. Nandamālābhivaṃsa làm Viện trưởng. Mặc dầu HT. Nandamālābhivaṃsa đã làm Viện trưởng Trường Đại học Phật giáo ở Yangon, nhưng cũng phải đảm trách Học viện ở Sagaing nữa.
Hiện nay chỉ có 5, 6 vị giảng dạy chính thức. Một số được mời từ vùng lân cận hoặc Mandalay để phụ trách một số môn.
Nhìn tổng quát, trong giai đoạn hiện nay, nếu sinh viên nào có trình độ ngoại ngữ khá nên cố gắng thi vào TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY ở Yangon là tốt nhất. Dẫu sao, ở đó mọi thứ đã tương đối ổn định. Trong trường hợp bất đắc dĩ, có thể đến Học viện Sitagu như là một giải pháp chờ thời, tự rèn kỹ năng, để chuẩn bị những bước đi dài và vững vàng hơn.


Chùm ảnh Sài Gòn đẹp lung lih

Đã yêu Sài gòn, bạn lại càng không thể không yêu hơn khi ngắm những bức ảnh đẹp lung linh của các nhiếp ảnh gia VN và khách du lịch quốc tế đã lưu lại dưới đây.























Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

Ðại Lễ Rằm Tháng Giêng




Người Việt có câu "phép vua thua lệ làng." Những phong tục dân gian lắm lúc được biết nhiều hơn là những nguyên tắc chánh truyền. Lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng là một trường hợp điển hình. Tên Phạn ngữ của đại lễ là Maghapuja có nghĩa là lễ hội ngày rằm tháng Magha - tương đương với tháng Giêng theo lịch Trung Hoa. Gọi là Thượng Nguyên là cách phân chia theo Âm Lịch cùng với Rằm tháng Bảy là Trung Nguyên và Rằm tháng Mười là Hạ Nguyên. Người Phật tử Việt Nam thường đi chùa xin dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn. Vì là ngày Rằm đầu năm nên các chùa tổ chức lễ rất trọng thể.

Ðại lễ Rằm Tháng Giêng theo truyền thống Phật Giáo mang hai ý nghĩa: Thứ nhất kỷ niệm ngày đức Phật thuyết kinh Giải Thoát Giáo tại Thánh Hội Tăng Già. Thứ hai kỷ niệm đánh dấu ngày Ðức Phật công bố Giáo Pháp đã được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa.

Kinh Giải Thoát Giáo - Ovadàpatimokkha- là bài kinh cô đọng về giáo pháp của chư Phật, căn bản của đời sống tu tập và tôn chỉ hoằng pháp. Mở đầu bài kinh đức Thế Tôn dạy rằng sự cúng dường đức Phật bằng cách cao quí nhất là sự hành trì Phật Pháp:

Ai hành trì chánh Pháp
Là cúng dường đức Phật
Bằng cách cao quí nhất
Trong các sự cúng dường

Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều: không làm các ác nghiệp, huân tu hạnh lành và thanh lọc tâm ý. Câu kinh nầy đã trở thành lời toát yếu Phật Pháp quen thuộc với mọi người Phật tử:

Không làm các nghiệp ác
Năng tu tập hành hạnh lành
Thanh lọc tâm thạnh tịnh
Là huấn ngôn chư Phật

Tiếp theo đức Phật nhấn mạnh khả năng kham nhẫn trong cuộc sống tu tập. Vị sa môn trên đường đạo phải học đức chịu đựng nhẫn nại. Trước hết là đối với bản thân. Ðức Từ Phụ nhắc nhở về con đường giải thoát mà chư Phật truyền dạy đều đòi hỏi sự kiên tâm. Tự chế không nuôi hiềm hận, nghiêm trì giới luật, phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, sống thanh tịnh độc cư, sống với tâm hướng thượng là những pháp căn bản của người cầu đạo giải thoát:

Diệt ác bằng nhẫn nại
Là pháp môn tối thắng
Chứng giải thoát Niết-bàn
Là thành tựu tối thượng

Sa môn không hiềm hận
Luôn tinh nghiêm giới luật
Sống phòng hộ các căn
Tiết độ trong ẩm thực
Sống thanh tịnh độc cư
Hướng tâm cầu giải thoát

Ði xa hơn đức Phật dạy thế nào là cái đẹp, cái được, cái nổi bật mà một người trên đường đạo nên mong mỏi. Pháp nhẫn nại là trang sức đẹp nhất; là điều kiện tất yếu cho các thiện pháp phát triển; là trang sức của người trí; là vẻ đẹp của người hiền; là điều kiện dẫn đến những thành tựu trong cuộc sống. Nhẫn nại là phương cách diệu dụng hoá giải mọi tranh chấp:

Tất cả các hạnh lành
Lớn mạnh nhờ kiên tâm
Với hiền trí trong đời
Dùng nhẫn là sức mạnh

Làm sang bằng nhẫn nại
Làm đẹp bằng nhẫn nại
Làm giàu bằng nhẫn nại
Thành công với nhẫn nại
Những tranh chấp lớn nhỏ
Hoá giải nhờ nhẫn nại

Ðức Phật cũng nêu rõ tôn chỉ hoằng pháp khi Ngài dạy chư Tăng: Ðời sa môn sống vì lợi ích của muôn loài. Không dụ dỗ, hăm dọa, hay dùng phỉ báng, phá hoại tha nhân. Con đường giải thoát giác ngộ là con đường của những người tự giác:

Không mê hoặc, doạ hẩm
Không gây thương tổn ai
Sa môn hoằng đạo cả
Vì lợi lạc cho đời

Một học giả Phật giáo gọi kinh Giải Thoát Giáo là bản tuyên ngôn về tôn chỉ tu tập và hoằng pháp của Tăng lữ. Bản tuyên ngôn đó đã được Ðức Phật long trọng trình bày trước một thính chúng toàn bậc thánh nhơn giải thoát. Tất cả đã im lặng mặc nhiên đón nhận.

Thánh Hội Tăng Già là một sự cố hy hữu xẩy ra duy nhất một lần trong thời Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thuở ấy, Ðức Ðiều Ngự đang trú ở chùa Trúc Lâm tại thành Ràjagaha. Ðó ngày trăng Rằm tháng Magha (tháng Giêng). Mặc dù không một lời mời nào, 1250 vị thánh Tăng tự vân tập về. Tất cả đều là bậc thánh tứ quả vô lậu giải thoát và đều xuất gia bằng lời gọi của Ðức Phật: "ehi bhikkhu - thiện lai tỳ kheo". Những bậc phước huệ vẹn toàn đó đã ngồi vây quanh dưới chân của Ðấng Ðại Giác trong sự im lặng tuyệt đối. Những lời giản dị nhưng thâm sâu của Phật được đón nhận bởi những tâm hồn cao khiết. Dưới ánh trăng vằng vặc sáng trong vườn trúc, tiếng nói giác ngộ được nói lên bởi con người giác ngộ cho một hội chúng giác ngộ. Quả là một cuộc gặp gỡ vô tiền khoáng hậu.

Rằm Tháng Giêng cũng kỷ niệm ngày Ðức Phật tuyên bố đạo tròn duyên mãn và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa. Sau 45 năm hoằng đạo, đức Phật kết thúc năm sau cùng bằng cuộc hành trình dài. Năm ấy Ngài đã 80 tuổi. Con đường từ Ràjagaha về Kusinara ghi lại nhiều sự cố quan trọng. Tại Vesalì, Ðức Ðiều Ngự "với cái nhìn của con voi chúa" đưa mắt quanh núi đồi thanh tú của xứ Vajji lần sau cùng. Buổi trưa hôm đó tôn giả Ananda vị thị giả của đức Như Lai cảm nhận sự rung chuyển mạnh của một cơn động đất trong khi đang thiền tịnh. Tôn giả đến gặp bậc Ðạo Sư và từ kim khẩu của Phật tôn giả được biết rằng Ðức Phật đã quyết định sẽ viên tịch sau 3 tháng tới. Không cầm được nước mắt, người đệ tử trung kiên nầy đã khẩn cầu đức Phật trụ thế lâu hơn. Ðức Phật ôn tồn:

- Hỡi Ananda, các con còn chờ đợi gì nữa ở Như Lai. Giáo pháp đã được truyền dạy đầy đủ không có gì giấu kín. Bốn chúng đệ tử đã được hướng dẫn đầy đủ trong việc tu học. Pháp và Luật đã được giảng giải tường tận.

Rất dễ dàng cho hậu thế chia sẻ tâm trạng của tôn giả Ananda nhưng cũng không thể quên rằng sự hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của Ðức Phật là một sự kiện thiêng liêng để kỷ niệm.

Rằm Tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Pháp Bảo - Dhamma Day. Cùng với ngày Phật Bảo (đại lễ Rằm Tháng Tư) và ngày Tăng Bảo (Lễ Kathina tháng Mười.) Bởi vì nội dung kinh Giải Thoát Giáo được xem là tôn chỉ của giáo Pháp nên đại lễ nầy được gọi là Ngày Pháp Bảo.

Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam tại hải ngoại đã thông qua ba ngày lễ trên là những ngày truyền thống của Phật giáo và những ngày lễ chính thức khác trong năm như ngày Cha Mẹ (Vu lan), Ngày Thiếu Nhi (Trung thu) ... Quyết định được công bố vào tháng 11 năm 1997.

Thọ Trì Hạnh Ðầu Ðà là cách cúng dường bằng sự tu tập. Lời xưa Phật dạy ai hành trì chánh pháp là cúng dường Như Lai bằng cách cao thượng. Nay những đệ tử cúng dường Phật bằng một đêm tu học không ngủ. Chữ đầu đà là phạn âm của từ ngữ Dhutanga có nghĩa là pháp tiêu trừ phiền não. Có tất cả là 13 hạnh đầu đà. Quyển Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhimagga) giải thích tường tận về mỗi hạnh với hiệu năng đối trị những phiền não khác nhau. Hạnh đầu đà trong đại lễ là hạnh sau cùng của mười ba hạnh. Ðây là pháp tiết chế sự mê ngủ bằng cách chỉ đi, đứng, ngồi chứ không nằm. Nói cách khác đây là một đêm không ngủ tu tập cúng dường đức Phật. Thiền sư Buddhadàsa ghi lại những kinh nghiệm bản thân khi Ngài thức đêm thiền định trong rừng: "thế giới về đêm quả có nhiều điểm kỳ diệu. Hình như trong sự yên tĩnh của màn đêm có cả bao nhiêu sự sống động tiềm ẩn. Những ai theo đuổi cuộc sống tinh thần không nên bỏ qua kinh nghiệm quí báu nầy."

Tùy theo mỗi chùa, đêm đầu đà có thể bao gồm nhiều tiết mục tu học. Thường thì gồm có thuyết pháp, luận đạo, tụng kinh, kệ kinh, hành thiền, kinh hành, v.v... Nói chung là những sinh hoạt tu học khó tìm thấy ở những đại lễ khác.

Cúng đèn cũng là một nghi thức đặc biệt của đại lễ. Túc Sanh Truyện cho chúng ta biết không phải chỉ có trong thời Ðức Phật đến nay mới có việc cúng đèn. Từ thời xa xưa đã có cách dúng dường như vậy. Nền văn minh Ấn hà có tục thờ lửa nên xem đèn như như một lễ phẩm quan trọng trong nghi thức tôn giáo. Thời xưa đèn là một nhu yếu cho các pháp hội buổi tối. Vì thế cúng đèn cũng là cúng dường Pháp Bảo. Dù làm cho sáng hay cho đẹp thì theo lý Nhân Quả người cúng đèn có phước quả sanh làm người có gương mặt sáng lạng ngoài ra nếu có nguyện lực cũng là nhân sanh trí huệ. Người Phật tử Việt nam xem hương, đăng, hoa, quả là bốn lễ phẩm cúng dường chính cho bàn thờ.

Vì lễ thọ đầu đà tổ chức buổi tối nên cúng đèn mang lại không khí thiêng liêng đặt biệt. Hai mươi tám (28) ngọn đèn được thắp để cúng dường 28 vị Chánh Ðẳng Chánh Giác như trong Buddhavamsa (Phật sử) ghi chép. Một trăm lẻ tám (108) ngọn đèn để tiêu tai bạt nghiệp từ 6 căn, 6 cảnh, 6 thức thuộc nội phần và ngoại phận trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai ((6+6+6)*2*3=108). Tục cúng cúng sao giải hạn vào lễ Thượng Nguyên cũng lấy việc cúng đèn làm nghi thức chánh.

Nói chung dù theo truyền thống hay tập tục thì lễ Thượng Nguyên vẫn có hai điểm nổi bật là cúng dường ngày Pháp Bảo và cầu an cho bản thân và gia đình./.
Tỳ Kheo Giác Ðẳng

Chùa Pháp Luân, Houston, Texas, U.S.A

(Nguồn: phapluan.net)




Magha Puja 
วันที่พระบรมศาสดา 
Is the day the Lord Buddha 
ทรงแสดงโอวาทปาติโมกข์ 
Gave the Principal Teaching 
แก่เหล่าพระอรหันต์ 1,250 องค์ 
To 1,250 Arahats 
ผู้ทรงอภิญญา 
Who were ordained 
ล้วนเป็นเอหิภิกขุอุปสัมปทา 
By the Lord Buddha. 
ที่มาประชุมกัน 
These Arahats came together 
โดยมิได้นัดหมาย 
Without any prior arrangement 
ณ เวฬุวันมหาวิหาร 
To the Veluvana Temple 
ในวันเพ็ญขึ้น 15 ค่ำเดือน 3 
On the 15th day of the 3rd waxing moon. 
คืนเพ็ญ 
The full-moon 
พระจันทร์ลอยเด่นเจิดจ้า 
Shines brightly in the sky. 
นบองค์พระศาสดา 
It’s the time to pay homage to 
วันมาฆปุณณมี 
It’s the time to pay homage to 
น้อมดวงใจส่งถึงพระชินสีห์ 
And think of the Lord Buddha. 
ล่วงกาลผ่านไปสองพันกว่าปี 
Over 2,500 years have gone past, 
โลกนี้ร่มเย็นเรื่อยมา 
The world has been blessed 
พระพุทธองค์ได้ทรงประทานโอวาท 
Because of the Buddhist Principles 
เป็นหลักพระศาสน์ 
Given by the Lord Buddha 
แก่เหล่าพระอรหันต์ 
To the Arahats that night. 
พันสองร้อยห้าสิบองค์ 
All 1,250 Arahats 
ผู้ทรงอภิญญา 
Who possessed supernormal powers, 
ล้วนเป็นเอหิภิกขุอุปสัมปทา 
Were ordained by the Lord Buddha. 
มารวมกันโดยมิได้นัดหมาย 
They came together without any prior arrangement 
ณ เวฬุวัน ยามบ่าย 
To the Veluvana Temple in that afternoon. 
ทรงแสดงโอวาทปาฏิโมกข์ 
The Lord Buddha gave the Principle Teaching 
ทรงมุ่งดับทุกข์โศก 
His aim is to end suffering 
แด่ชาวโลกทั้งหลาย 
And grief for all mankind 
เพื่อเป้าหมายสู่พระนิพพาน 
And to lead us all to Nibbana. 
มาฆบูชา 
Magha Puja, 
มหาสมาคมใหญ่ 
The day of the great assembly, 
พุทธบริษัทรวมใจ 
We the Buddhist Communities are of one mind and come together 
จุดโคมประทีปถวาย 
To light the sacred lanterns. 
มาฆบูชา 
Magha Puja, 
มหาสมาคมใหญ่ 
The day of the great assembly, 
พุทธบริษัทรวมใจ 
We the Buddhist Communities are of one mind and come together 
ปฏิบัติธรรมถวาย 
To practice meditation 
จุดโคมประทีปถวาย 
To light the sacred lanterns. 
เป็นพุทธบูชา 
As we worship the Lord Buddha 
ปฏิบัติธรรมถวาย 
We meditate together 
เป็นพุทธบูชา 
As we worship the Lord Buddha 

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

Chuyện điềm lành lớn



Trong đời sống hàng ngày, nhiều người thường hay chú ý đến những điềm “hên, xui”. Khách hàng sáng sớm tới hỏi mà không mua thì “xui”. Mở hàng gặp người “nặng vía” thì xui. Ngược lại, chị X. mua hàng của mình, sau đó để ý thấy hàng bán ra được nhiều, đắt hẳn lên, thì cần phải kèo nài để lần sau chị X. mua mở hàng. Tâm lý lo lắng nghi ngại về các điềm “hên xui, lành dữ” chẳng phải là điều mới xảy ra mà đã có từ thời thượng cổ. Chuyện tiền thân Mahà Mangala kể lại câu chuyện về điềm lành lớn.

Tại kinh thành Vương Xá, có một người bước ra nói: “Hôm nay là ngày có điềm lành”. Một người khác hỏi: “Vậy điềm là gì?” Một người thứ ba nói: “Dấu hiệu gì có vẻ may mắn thì gọi là điềm lành. Ví dụ một người thức dậy sớm và thấy một con bò đực toàn trắng hay một người đàn bà có thai, hay con cá màu đỏ, hay cái bình đầy đến tận miệng, hay lạc1 mới tan từ sữa bò, hay y phục mới chưa mặc qua, hay cháo gạo, thì chẳng có điềm gì tốt hơn nữa”. Vài kẻ bàng quan khen: “Nói hay đấy”. Song có kẻ khác chen vào: “Các sự việc trên chẳng phải là điềm gì cả. Khi nào nghe người ta nói “Đầy đủ” rồi lại nghe “Lớn đầy đủ” hay “Ăn đi, nhai đi” thì chẳng có điềm nào tốt hơn nữa”. Vài kẻ bàng quan khen: “Nói hay đấy”. Một người khác lại nói: “Chẳng có điềm gì trong mọi chuyện ấy cả. Hễ cái gì bạn đụng chạm đến mới là điềm. Nếu một người thức dậy sớm đụng vào đất hay cỏ xanh, phân bò tươi hay chiếc áo sạch, cá màu đỏ, vàng hay bạc, thức ăn… thì chẳng có điềm gì tốt hơn nữa”. Sau đó, mọi người chia thành ba nhóm: nhóm chủ trương điềm do mắt thấy, nhóm chủ trương điềm do tai nghe, nhóm chủ trương điềm do đụng chạm.
“Điềm” là dấu hiệu báo trước một chuyện sẽ xảy ra. Có nhiều “điềm” được khoa học nói tới. Ví dụ, khi nước biển rút thật nhanh ra khỏi bờ thì đó là “điềm” sẽ có sóng thần. Có nhiều điềm được rút ra từ kinh nghiệm lâu đời. Ví dụ “chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì hanh”. Đó là các loại điềm mang tính tổng kết thực nghiệm và có phần chắc chắn. Giữa điềm đó và chuyện xảy ra có một mối liên hệ chặt chẽ theo kiểu “cái này có thì cái kia có”. Đó là các loại “điềm” có cơ sở thực nghiệm. Tuy nhiên, dân gian còn có nhiều loại “điềm” khác không có cơ sở thực nghiệm. Ví dụ: “chuột cắn chân là điềm xui”, “nằm mơ thấy ăn đậu xanh đậu đỏ thì sẽ thi đậu đại học”. Điềm lành là một dấu hiệu mà khi gặp dấu hiệu đó ta nghĩ là mình sẽ gặp may. Các dấu hiệu mà giác quan thu nhận được thường là do mắt thấy, tai nghe hay do thân thể đụng vào. Vì thế các nhóm chủ trương điềm lành chia làm ba nhóm. Tuy chia làm ba nhóm, cả ba nhóm đều thống nhất ở một đặc điểm của “điềm” loại này: là một dấu hiệu gì đó đến từ bên ngoài và ta thường đóng vai trò thụ động trong việc thấy dấu hiệu này. Thường thường, những người chủ trương các loại “điềm” không có cơ sở thực nghiệm thường không giải thích được tại sao khi có điềm này thì sẽ có chuyện xảy ra và thường không trả lời được câu hỏi, “làm sao để có ‘điềm lành’ này hay làm sao để tránh ‘điềm không lành’ kia?”.
Từ các thần trên mặt đất đến vua trời Đế Thích không ai có thể xác định điềm là như thế nào. Đế Thích nghĩ thầm:
‘Giữa các vị trời và loài người, không ai ngoài Đức Thế Tôn là bậc có thể giải đáp đúng về vấn đề điềm triệu. Ta muốn đi đến Đức Thế Tôn và đặt vấn đề với Ngài’. Thế là ban đêm Đế Thích đến thăm Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và chắp tay vào nhau để thỉnh cầu, Thiên chủ đặt câu hỏi:
Nhiều thiên tử và người, Suy nghĩ đến điềm lành, Mong ước và đợi chờ, Một nếp sống an toàn, Xin Ngài hãy nói lên,
Về điềm lành tối thượng.
Sau khi nghe Thiên chủ hỏi, bậc Đạo sư đọc mười hai đoạn kệ bảo cho Thiên chủ về “ba mươi tám điềm lành lớn”. Trong khi Ngài ngâm những lời kinh điềm lành ấy, lần lượt các vị trời lên đến con số mười triệu vị đã đắc quả A-la-hán, còn các vị đắc ba đạo quả kia thì nhiều không kể xiết. Thiên chủ nghe xong các điềm lành liền trở về cõi của mình. Khi bậc Đạo sư nói về các điềm lành xong, thế giới loài người và thiên giới đồng tán thành. Sau đó trong chánh pháp đường, Tăng chúng bắt đầu bàn luận về công đức của Đức Như Lai: “Này chư Tôn giả, vấn đề điềm triệu vượt phạm vi hiểu biết của mọi người, trừ Ngài đã tuệ tri tâm của loài người và chư thiên, cùng giải tỏa các mối nghi của họ như thể Ngài khiến mặt trăng hiện lên trên bầu trời! Ôi Đức Như Lai là một bậc đại trí, này các hiền hữu!”. Bậc Đạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì trong lúc ngồi tại đó. Tăng chúng thưa lại với Ngài. Ngài bảo: “Này các Tỷ kheo, chẳng có gì vi diệu khi Ta giải đáp vấn đề điềm lành, vì nay Ta đã đạt tối thắng trí. Ngay khi Ta còn là Bồ-tát trên trần gian, Ta đã giải đáp mối nghi hoặc của chư thiên và loài người bằng cách trả lời vấn đề điềm lành”. Nói vậy xong Ngài kể lại câu chuyện quá khứ.
Một thuở nọ, Bồ-tát tái sanh vào một thị trấn trong một gia đình Bà-la-môn giàu có, cha mẹ đặt tên ngài là Rakhitakumàra. Sau khi song thân qua đời, ngài phân chia tài sản để bố thí rồi trở thành ẩn sĩ tại Tuyết sơn. Ngài có năm trăm đệ tử. Mùa mưa, các vị đệ tử này rời Tuyết sơn đến Ba-la-nại và trú ngụ trong ngự viên. Lúc bấy giờ vấn đề điềm triệu được đưa ra bàn cãi và không ai có thể đánh tan mối hoài nghi của mọi người. Nhà vua đã hỏi các vị đệ tử của Bồ-tát nhưng họ cũng không thể trả lời được và hứa sẽ về hỏi Bồ-tát về vấn đề này. Vị đệ tử lớn tuổi nhất đã hỏi Bồ- tát:
Hiển bày chân lý giải nghi nan, Xin dạy kinh gì của thánh nhân, Đem học hành theo giờ thuận lợi, Đời này, đời kế được hồng ân?
Bồ-tát bắt đầu thuyết giảng điềm lành thứ nhất:
Mọi phạm thiên thần thánh hiển linh,
Các loài rồng rắn, giữa quần sanh,
Ta hễ thấy ai đầy từ mẫn,
Vị ấy ban ơn mọi hữu tình.
“Điềm lành” thường được hiểu là dấu hiệu cho biết là sẽ có chuyện may mắn xảy ra. Tuy nhiên, theo lý thuyết nhân quả, nếu làm điều tốt sẽ gặp điều tốt, nếu “gieo gió” thì sẽ “gặt bão”. Do đó, không có chuyện gì gọi là may mắn, nó là kết quả do điều tốt mình đã làm từ trước. Cũng không có chuyện gì gọi là xui rủi, nó là kết quả do điều xấu mình đã làm từ trước. Tóm lại, nếu làm điều lành ta sẽ gặp chuyện lành. Vậy nên, nếu “điềm lành” được hiểu là dấu hiệu cho biết là sẽ có chuyện lành xảy ra, thì khi ta làm một việc tốt, dù nhỏ nhoi đến đâu, đó cũng chính là dấu hiệu rõ ràng nhất thể hiện ta “đang thấy điềm lành”. Nếu hiểu như Đức Phật đã giảng, ta không cần chờ điềm lành xuất hiện. Ta có thể tạo ra điềm lành vào mọi lúc.
Bậc Đại nhân thuyết giảng đến các điềm lành khác:
Kẻ nào khiêm tốn với muôn người,
Yêu mến nữ nam, mọi gái trai
Đứng trước lời bình, không đáp lại,
Sẽ mang hạnh phúc đến cho đời.

Gặp hiểm nguy, người có trí nhanh
Chẳng khinh đồng nghiệp, bạn đồng hành,
Chẳng khoe dòng, trí, giàu, giai cấp,
Hạnh phúc cho đời ắt khởi sanh.

Người nào kết bạn thiện hiền nhân
Được trọng vì mồm chẳng ác thâm,
Không hại bạn, chia đều của cải,
Chính niềm hạnh phúc giữa thân bằng.

Vợ hiền, đồng tuổi lại ân cần,
Tận tụy nhân từ, trẻ lại đông,
Đức hạnh, trung thành dòng tộc quý,
Ấy niềm hạnh phúc vợ trao chồng.

Vua nào đại đế giữa thần dân
Biết sống thanh cao đủ khả năng
Bảo “đấy bạn ta”, không dối trá,
Chính niềm hạnh phúc giữa vương quân.

Thành tín cùng cơm nước cúng dường
Vòng hoa tươi tốt các mùi hương,
Với tâm thanh tịnh, gieo an lạc,
Hạnh phúc chư thiên được mãn đường.

Các trí nhân thuần thiện, chánh chân
Tâm tư rửa sạch, gắng tinh cần,
Theo đời thanh tịnh người hiền trí,
Phúc lạc thay người giữa thánh nhân.
Ba đoạn kệ đầu cho thấy: làm được một hành vi tốt là có một điềm lành. Khi bạn phát sinh lòng thông cảm với anh Y, chị X. Đó là một điềm lành. Khi bị chê “ngu” mà không đáp lại, đó là một điềm lành. Một lần không khoe mẽ, đó là một điềm lành. Một lần không nói cạnh, nói khóe, đó là một điềm lành. Một lần chia sẻ miếng xôi, đó là một điềm lành. Mỗi ngày bạn có thể làm vài cái cho đến vài chục cái điềm lành như vậy. Các đoạn kệ sau nói tới những vai trò trong xã hội. Trong mỗi vai trò, mỗi lần ta làm một việc tốt thì đó là một điềm lành.
Cứ như vậy, bậc Đại nhân đã đưa bài thuyết pháp lên đến điểm cao nhất của thánh đạo, và sau khi giải thích các điềm lành trong tám câu kệ, Ngài ngâm đoạn kệ cuối:
Công đức như vầy giữa thế gian, Được tôn sùng bởi mọi hiền nhân Người khôn hãy bước đi theo chúng Điềm triệu chẳng mang tính thật chân.
Bậc Đạo sư sau khi chấm dứt pháp thoại, bảo: “Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa Ta cũng đã giải thích vấn đề điềm lành”, rồi Ngài nhận diện tiền thân: “Vào thời ấy, hội chúng đệ tử của Đức Phật là đám đệ tử của Bồ-tát, Xá-lợi-phất là vị trưởng đệ tử và Ta chính là vị Đạo sư ấy”.

Tấn Nghĩa (theo VHPG Blog)
Chú thích:
1. Lạc, sanh tô, thục tô, đề hồ là các chất dẫn xuất từ sữa bò, là kem sữa hoặc yaourt.

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

HAPPY VIETNAMESE NEW YEAR 2013

Kính chúc chư Tăng một năm mới an vui, thân tâm an lạc.
Chúc tất cả mọi người vạn sự kiết tường, tất cả mọi việc đều thành công như ý nhé
Nhâm Thìn qua, Quí Tỵ tới
Vạn điều mới, Triệu điều vui
Không điều xui, Tỷ điều phát
Xuân bát ngát,Tâm lành thay
Tiền đầy tay, Vàng đầy túi
Happy new year!!!
ซินเจีย ยู๋อี๋ ซินนี้ ฮวดไช้
สวัสดีปีใหม่ขอให้รวย
อีกบุญช่วยมีเงินตรามหาศาล
ขอให้สุขเกษมเปรมสำราญ 
โรคภัยพาลอย่ามีศรีมงคล 
ตั้งแต่นี้ต่อไปไม่ลำบาก
อุปสรรคคลายไปไร้คนบ่น
ขอให้มีมิตรดีอย่ามีจน 
เจริญผลพูนทวีทั้งปีเทอญ


万事如意 คำแปล : สมความปรารถนา
恭喜发财 คำแปล : ขอให้ร่ำรวย
吉祥如意 คำแปล : สมปรารถนา
好运年年 คำแปล : โชคดีตลอดไป
帆风顺 คำแปล : ทุกอย่างราบรื่น
财源广进 คำแปล : เงินทองไหลมา
招财进宝 คำแปล : เงินทองไหลมา
年年有余 คำแปล : เหลือกินเหลือใช้
事事顺利 คำแปล : ทุกเรื่องราบรื่น
金玉满堂 คำแปล : ร่ำรวยเงินทอง
本万利 คำแปล : กำไรมากมาย
大吉大利 คำแปล : ค้าขายได้กำไร
年年发财 คำแปล : ร่ำรายตลอดไป
龙马精神 คำแปล : สุขภาพแข็งแรง


“I wish U to have a ….. Sweetest Sunday, Marvelous Monday, Tasty Tuesday, Wonderful Wednesday, Thankful Thursday, Friendly Friday, Successful Saturday. Have a great Year!

Happy New Year!




Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Thoát bẫy ác ma

“… Người hành trì thiền định, thoát trói buộc ác ma”1.
Đức Phật chứng nghiệm  rất rõ rằng dục lạc (kàmasukha) hay lạc thú thế gian - sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu - có vị ngọt hấp dẫn lôi cuốn chúng sinh vào con  đường  mê  say, tham  đắm, phóng  dật, gắn liền với muôn vàn hệ lụy khổ đau. Càng đam mê dục lạc thì con người càng quay cuồng trong thế giới tranh chấp khổ não, không tìm thấy an lạc, vì “các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn”2. Trong bài kinh Bẫy mồi (Nivàpasutta) thuộc tuyển tập Trung Bộ, Đức Phật dùng ảnh dụ bốn đàn nai và người thợ săn đặt bẫy mồi để lưu ý các học trò mình về sức hấp dẫn và sự nguy hại của các dục do ác ma gieo ra, đồng thời chỉ rõ pháp  môn tu tập khiến cho các đệ tử thoát khỏi bẫy của ác ma, sống thanh thản an lạc ngay trong cuộc đời đầy ma chướng dục vọng. Bốn đàn nai dụ cho bốn hạng Sa-môn, Bà-la-môn ở đời. Ba hạng đầu không thoát khỏi bẫy dục vọng của ác ma. Chỉ có hạng thứ tư, nhờ tu tập pháp môn thiền định do Đức Phật giảng dạy, mới thoát khỏi ma chướng dục vọng, sống thanh thản an lạc, tự do tự tại.
Phật lưu ý rằng các mồi ngon dục lạc do ác ma gieo ra vốn chất chứa nhiều tai ách hiểm họa cho loài người; tựa như người thợ săn gieo đồ mồi cho các đàn nai ăn, không phải để nuôi dưỡng chúng, khiến cho chúng được hạnh phúc an lạc lâu dài, nhưng để dẫn dụ các đàn nai đi đến chỗ tai ách, rơi vào bẫy sập, chịu nhiều bất hạnh khổ đau.
Đàn nai thứ nhất xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi do người thợ săn đặt bẫy gieo ra để nhữ. Vì xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi, nên chúng trở thành mê loạn. Do mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do phóng dật, chúng trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ mồi của người thợ săn bẫy mồi.
Đàn nai thứ hai nhận thức bài học nguy hại từ đàn nai thứ nhất, liền từ bỏ hoàn toàn các đồ mồi do người thợ săn gieo ra, đi sâu vào rừng và an trú. Nhưng đến cuối tháng mùa hạ, cỏ nước khan hiếm, thân hình đàn nai ấy trở thành hết sức gầy yếu, sức lực bị kiệt quệ. Vì sức lực bị kiệt quệ, đàn nai ấy trở lại chỗ có các đồ mồi do người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Chúng xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi. Vì xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi nên chúng trở thành mê loạn. Do mê loạn, chúng  trở thành  phóng  dật. Do phóng dật, chúng trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ mồi của người thợ săn bẫy mồi.
Rút kinh nghiệm  từ hai đàn  nai đầu,  đàn  nai thứ ba làm một chỗ ấn nấp gần các đồ mồi của người thợ săn. Sau khi làm chỗ ẩn nấp xong, không xâm nhập, không tham đắm, chúng ăn các đồ mồi do người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Nhưng rồi chúng  rơi vào tà kiến khiến người thợ săn dò tìm ra dấu vết và chỗ ẩn nấp của chúng  và do vậy đàn nai thứ ba này cũng không thoát được như ý lực của người thợ săn bẫy mồi.
Đàn nai thứ tư, rút kinh nghiệm  từ ba đàn nai trước, làm một chỗ ẩn nấp tại một nơi mà người thợ săn bẫy mồi không thể đến được. Làm chỗ ẩn nấp xong, không xâm nhập, không tham đắm, chúng  ăn các đồ mồi do người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Vì không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi, nên chúng không mê loạn. Do không mê loạn, chúng không trở thành  phóng  dật. Do không phóng  dật, chúng không trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ mồi của người thợ săn bẫy mồi. Biết rõ không thể làm gì được đàn nai thứ tư, người thợ săn đành rời bỏ việc săn bắt đàn nai này, đi tìm mục tiêu khác, vì lo ngại “rút cây sẽ động đến rừng”.
Sau đây là toàn văn lời Phật nói về bốn hạng Sa-môn, Bà-la-môn và thái độ của họ đối với các lạc thú thế gian3:
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Ở đây, họ xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn, nên trở thành mê loạn; vì mê loạn, họ trở thành phóng dật; vì phóng dật, họ trở thành những người bị làm theo ý Ác ma muốn giữa các đồ mồi này và giữa các vật dụng thế gian. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này không thoát được như ý lực của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này giống như đàn nai đầu tiên trong thí dụ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai suy nghĩ như sau: ‘Hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này đã xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra, và các vật dụng thế gian. Ở đây, họ xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn, nên trở thành mê loạn; vì mê loạn, họ trở thành phóng dật; vì phóng dật, họ trở thành những người bị làm theo ý Ác ma muốn giữa các đồ mồi ấy và giữa các vật dụng thế gian. Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này đã không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Vậy, chúng ta hãy hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi và các vật dụng thế gian, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào rừng và an trú.’ Họ hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi, các vật dụng thế gian, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào rừng và an trú. Ở đây, họ trở thành những người ăn cỏ lúa, ăn lúa tắc, những người ăn gạo lứt, những người ăn hột cải Nivara, những người ăn da vụn, những người ăn trấu, những người ăn nước bột gạo, những người ăn hột vừng, những người ăn cỏ, những người ăn phân bò, những người ăn trái cây, những người ăn rễ cây trong rừng, những người ăn trái cây rụng để sống. Cuối tháng mùa hạ, cỏ nước trở thành khan hiếm, thân hình của hạng Sa-môn, Bà-la-môn ấy trở thành hết sức gầy yếu. Vì thân hình hạng Sa-môn, Bà-la- môn ấy trở thành hết sức gầy yếu, nên sức lực tinh tấn của họ bị kiệt quệ. Vì sức lực tinh tấn bị kiệt quệ, nên tâm giải thoát bị kiệt quệ. Vì tâm giải thoát bị kiệt quệ, họ trở lui lại các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Ở đây, họ xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn. Do ở đây xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn, họ trở thành mê loạn. Do mê loạn, họ trở thành phóng dật. Do phóng dật, họ trở thành những người bị làm theo ý Ác ma muốn giữa các đồ mồi này và giữa các vật dụng thế gian. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai này đã không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai này giống như đàn nai thứ hai trong ví dụ này.
Này các Tỷ-kheo, ở đây hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba suy nghĩ như sau: ‘Hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi được Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian... Như vậy hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này đã không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi... Cuối tháng mùa hạ…Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai này cũng không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Vậy chúng ta hãy làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Ở đây, sau khi làm một chỗ ẩn nấp xong, không xâm nhập, không tham đắm, chúng ta sẽ ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Do không xâm nhập, không tham đắm ăn các món ăn, chúng ta sẽ không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, chúng ta sẽ không trở thành phóng dật. Do không phóng dật, chúng ta sẽ không trở thành những người bị làm theo Ác ma muốn, giữa các đồ mồi và các vật dụng thế gian.’ Hạng Sa-môn, Bà-la-môn này làm chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi do Ác ma gieo ra và giữa các vật dụng thế gian. Sau khi làm chỗ ẩn nấp ở đây xong, họ không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi, nên họ không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, họ không trở thành phóng dật. Do không phóng dật, họ không trở thành những người bị làm theo Ác ma muốn giữa các đồ mồi và các vật dụng thế gian. Nhưng rồi họ có những tà kiến như sau: ‘Thế giới là thường còn; thế giới là không thường còn; thế giới là hữu biên; thế giới là vô biên; mạng sống và thân thể là một; mạng sống và thân thể là khác; Như Lai sau khi chết có tồn tại; Như Lai sau khi chết không tồn tại; Như Lai sau khi chết có tồn tại và không tồn tại; Như Lai sau khi chết không tồn tại và không không tồn tại.’ Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba này đã không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba này giống như đàn nai thứ ba trong ví dụ này.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư suy nghĩ như sau: ‘Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi của Ác ma và các vật dụng thế gian... Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn này không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai từ bỏ hoàn toàn các đồ mồi của Ác ma... Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian... Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Vậy chúng ta hãy làm chỗ ẩn nấp tại một nơi mà Ác ma và Ác ma quyến thuộc không thể đến được. Làm chỗ ẩn nấp ở đấy xong, chúng ta sẽ không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi, nên chúng ta không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, chúng ta không trở thành phóng dật. Do không phóng dật, chúng ta không trở thành những người bị làm theo Ác ma muốn, giữa các đồ mồi và các vật dụng thế gian.’ Rồi họ làm chỗ ẩn nấp tại một nơi mà Ác ma và Ác ma quyến thuộc không thể đến được. Làm chỗ ẩn nấp ở đấy xong, họ không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian, nên họ không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, họ không trở thành phóng dật. Do không phóng dật, họ không trở thành những người bị làm theo Ác ma muốn giữa các đồ mồi và các vật dụng thế gian. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư đã thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư này giống như đàn nai thứ tư trong ví dụ này.
Này các Tỷ-kheo, sao gọi là Ác ma và Ác ma quyến thuộc không thể đến được?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy gọi là Tỷ-kheo làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Như vậy gọi là Tỷ-kheo… khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Như vậy gọi là Tỷ-kheo... khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy gọi là Tỷ- kheo... khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên,’ chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy gọi là Tỷ- kheo... khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng ‘Thức là vô biên,’ chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy, gọi là Tỷ-kheo... khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: ‘Không có một vật gì,’ chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy gọi là Tỷ-kheo... khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy gọi là Tỷ-kheo... khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, sau khi thấy mọi vật với trí tuệ, các lậu hoặc được diệt trừ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về”.
Tóm lại, lời Phật giúp cho chúng ta hiểu rằng các dục ở đời - sắc, thanh, hương, vị, xúc - có sức hấp dẫn và đầy nguy hiểm mà không ai có thể chối bỏ hay lẩn tránh chúng được. Mọi người đều phải “cậy đến” dục lạc để tồn tại. Vậy nên, sự nhận thức không đúng về dục lạc chỉ dẫn đến các cực đoan. Mê say tham đắm dục lạc như hạng Sa-môn, Bà- la-môn thứ nhất thì khổ đã đành, mà cự tuyện hoàn toàn giống như hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai cũng không thoát khổ. Chỉ có cái nhìn trung đạo, thấy các dục là “vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn” đi đôi với công phu hành thiền theo lời Phật dạy mới có thể khắc phục và thoát khỏi sự hấp dẫn chi phối của dục lạc mà sống thanh thản an lạc4. Giống hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư, biết thọ dụng “đúng pháp” các đồ mồi do ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian, khiến ác ma không tìm được đường đi lối về để làm hại. Nói cách khác, chính nhờ hành thiền, chứng nghiệm thiền lạc, thấy rõ bản chất phù dung của dục lạc, nên người con Phật có khả năng đối trị và vượt qua sức tấn công của dục lạc và dục tưởng (tà kiến) để sống tự do thanh thản trên cuộc đời.
Chú thích:
1. Kinh Pháp Cú, kệ số 276.
2. Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Xà dụ, Trung Bộ.
3. Kinh Bẫy mồi, Trung Bộ.
4. Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Màgandiya, Trung Bộ.
NGUYÊN  HOA