Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

MÙA HẠ THỨ 17

Bịnh đói to hơn các bịnh thường
Phàm nhân vì nó phải tư tương
Chú nghèo đến trễ cam lòng đói
Đức Phật từ bi nghĩ xót thương
Cơm Tăng một bửa tạm no lòng
Sơ quả sanh liền khỏi đợi mong
Tứ chúng nào hay vì lẽ khó
Đường xa, Phật chẳng ngại hoài công.


Mùa mưa thứ 17 này, đức phật và chư Tỳ-khưu đã trở lại Trúc Lâm Tịnh xá (Veḷuvanavihāra) ở thành Rājagaha của xứ Magadha và an cư suốt 3 tháng mùa mưa tại đây.
Vào năm thứ 17 trong sự nghiệp hoằng pháp của Đức Phật, Ngài có trở về Sāvatthi và trở lại viếng Ālavī để tế độ một nông dân nghèo. Và người nông dân này đắc quả Dự lưu sau khi nghe Phật thuyết kinh. Năm này Ngài an cư tại Rājagaha.[1]
Tương truyền rằng; Đức Thế Tôn tịnh tọa trong Hương thất ở Jetavana, vào buổi sáng Ngài quán xét thế gian, Ngài thấy được duyên lành của người đàn ông nghèo khó, nên Ngài ngự đến thành Ālavī cùng với 500 Tỳ Khưu tùy tùng.
Dân thành Ālavī liền cung thỉnh Đức Thế Tôn. Được tin Đức Thế Tôn ngự đến, người đàn ông nghèo khó ấy cũng có ý định đến nghe Pháp của Ngài, nhưng trong ngày ấy con bò của y sút chuồng chạy mất, người ấy suy nghĩ: “Ta nên đi kiếm bò hay là đi nghe Pháp” Rồi y quyết định “Ta hãy tìm bò mang về chuồng, rồi hãy đi nghe Pháp”. Từ bình minh, người ấy đã ra đi khỏi nhà tìm con bò, dân thành Ālavī đã cung thỉnh chư Tăng có Đức Phật là vị Thượng thủ thọ thực nơi Trai thí đường, sau khi Ngài thọ thực xong, họ xin thỉnh Bát của Đức Bổn Sư để yêu cầu Ngài phúc chúc phước, Đức Bổn Sư phán dạy:
 - Chỉ vì một người mà Như Lai vượt khoảng đường xa 30 do tuần đến đây để tiếp độ y. Hiện y đang vào rừng để kiếm con bò đi lạc khi nào người ấy đến, Như Lai sẽ thuyết pháp.
Rồi Ngài im lặng. Người đàn ông nghèo kiếm được con bò xong, đưa nó trở về với đàn bò, rồi tự nhủ rằng: “Nếu không có chuyện chi khác, ta hãy đi đảnh lễ Đức Bổn Sư”. Mặc dù đang đói bụng, nhưng y không có ý định trở về nhà mà lật đật tìm đến đảnh lễ Đức Bổn Sư, và đứng qua một bên.
Chờ người ấy đứng yên, Đức Bổn Sư hỏi người phụ lo việc trai tăng rằng:
- Vật thực của chư Tăng còn chút chi chăng?
- Bạch Ngài! Còn có đủ ạ.
- Nếu vậy, hãy dọn cơm cho người nầy dùng đi.
Sau khi mời người đàn ông nghèo ngồi nơi Đức Bổn Sư chỉ dạy, người hộ tăng chăm lo khoản đãi người ấy với cháo, vật thực cúng dường thượng vị loại cứng loại mềm. Sau khi dùng bữa xong, người đàn ông ấy súc miệng (người ta bảo rằng: Ngoài ra chỗ nầy, khắp nơi khác trong Tam Tạng không có ghi chép việc Đức Phật lo lắng về vấn đề cơm nước như thế). Sự khổ thân vừa được yên thì tâm của y cũng được tịnh lặng.
Cuối thời Pháp, người ấy chứng đắc Tu Đà Hườn quả. Sau khi phúc chúc xong, Đức Thế Tôn đứng dậy ra đi, đại chúng theo sau tiễn đưa Đức Bổn Sư một lối đường rồi quay trở lại.
Chư Tăng đang đi với Đức Thế Tôn, than phiền rằng:
- Nầy chư Hiền! Hãy xem việc làm của Đức Thế Tôn đó, trong những thời khắc thì không có chuyện như vậy, nhưng lần nầy Ngài đã vì một người đàn ông nghèo, mà lo lắng bảo người hộ Tăng dâng hộ cháo cơm.
Đức Bổn Sư quay lại, đứng hỏi rằng:
- Nầy các Tỳ Khưu! Các thầy đang bàn chuyện chi thế?
Khi nghe rõ mọi sự, Ngài bảo rằng:
- Phải đó, nầy các Tỳ Khưu! Sở dĩ ta vượt đường dài cả 30 do tuần mà đến đây, vì ta thấy được duyên lành của ông Thiện nam nầy. Ông ta đang đói bụng quá sức, vì từ sáng sớm đã thức dậy vào rừng để tìm con bò đi lạc. Đang khổ vì đói, dẫu có người thuyết pháp, người ấy cũng không thể lãnh hội được Pháp. Vì nghĩ vậy, nên ta đã làm như thế. Này các Tỳ Khưu, không có bịnh nào sánh bằng bịnh đói cả.
Nói rồi, Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Jighacchāparamā rogā,
Saṅkhāraparamā‚ dukhā.
Etaṃ ñatvā yathābhūtaṃ,
Nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ.”
“Ðói ăn, bệnh tối thượng,
Các hành, khổ tối thượng,
Hiểu như thực là vậy,
Niết bàn, lạc tối thượng.” [2]
(Ngài HT Minh Châu dịch Việt)




[1] Pāli Proper Names Dictionary (G P Malalasekera)
[2]Dhammapada 203.

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

MÙA HẠ THỨ 16


Sau khi Đức Phật đã tế độ được dạ xoa Āḷavaka rất hung dữ hơn cả ma vương. Dạ xoa Āḷavaka đã chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Sơ quả. Sau đó Đức Phật an cư ba tháng mùa mưa tại ngôi tháp Aggāḷava trong xứ Āḷavī, để tế độ Đức vua Āḷavaka cùng dân chúng trong xứ. câu chuyện được ghi lại như sau:
Vua Āḷavaka có hứa với Dạ xoa Āḷavaka  là sẽ dâng cho Dạ xoa những người phạm tội để Dạ xoa ăn thịt.  Đến lúc không còn tội phạm, vua bắt thần dân phải hy sanh mỗi nhà một đứa trẻ để dâng cho Dạ xoa.  Các bà mang thai sắp sanh nở đều lục tục rời kinh thành để tránh khỏi phải hy sanh con.  Sau 12 năm, không còn con nít để dâng cho Dạ xoa ngoài con của vua là Āḷavaka Kumāra. Ngày dâng cũng đến, vua cho con trang phục lộng lẫy.  Qua Phật nhản, đức Phật bèn đến trú xứ của Dạ xoa để tế độ Dạ xoa.
Bấy giờ Āḷavaka bận đi họp với các dạ xoa khác trên Hy Mã Lạp Sơn.  Viên giữ cửa Gadrabha cho Phật vào nhưng cảnh báo về bản tánh hung hăng của Dạ xoa.  Phật lên ngồi trên ngai của Dạ xoa trong lúc Gadrabha lên Hy Mã Lạp Sơn báo tin có Phật đến nhà.  Lúc ấy có hai Dạ xoa Sātāgira và Hemavata bay ngang trú xú của Āḷavaka nhưng không bay qua được; họ biết có Phật đang ngự tại trú xứ này, họ xuống đảnh lễ Phật trong lúc Ngài đang nói pháp cho các nữ dạ xoa nghe.  Sau đó họ ra đi, tiếp tục cuộc hành trình đến nơi họp.
Khi nghe Gadrabha cũng như Sātāgira và Hemavata nói có Phật trong trú xứ mình, Āḷavaka nổi xung, buông lời thóa mạ Phật, và tức tốc trở về trú xứ.  Dùng tất cả thần lực, kể cà Dussūvudha là khí giới lợi hại nhứt của mình, nhưng Dạ xoa không sao đuổi Phật xuống ngai.  Dạ xoa bèn đến bên Phật và yêu cầu Ngài rời trú xứ của mình; Phật chấp thuận lời yêu cầu.  Sau đó, Dạxao lại mời Phật trở lại; Phật đến. Dạ xoa mời ba lần và Phật đến ba lần nghĩ rằng sự thông cảm sẽ làm giảm khí phẩn nộ của Dạ xoa.  Nhưng tới lần mời thứ tư, Phật từ chối không đến.  Dạ xoa bèn xoay qua vấn Phật nhằm mục đích làm Phật mỏi mòn, Phật sẵn sàng trả lời.
Pháp không làm khó Pháp Vương
Từ hòa kham nhẫn vì thương muôn loài

DẠ XOA ALAVAKA ĐỐI XỬ VỚI ĐỨC PHẬT BẰNG THÁI ĐỘ TRỊCH THƯỢNG
VÀ NHỮNG CÂU VẤN NẠN. ĐỨC PHẬT CÀM HÓA BẰNG SỰ NGHIÊM TỪ
VÀ GIẢNG GIẢI DIỆU PHÁP.

- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu hỏi. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng.


- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta hay nắm lấy chân, quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.
(Dạ-xoa):
Cái gì đối người đời,
Là tài sản tối thượng?
Cái gì khéo hành trì,
Ðem lại chơn an lạc?
Cái gì giữa các vị,
Là vị ngọt tối thượng?
Phải sống như thế nào,
Ðược gọi sống tối thượng?
(Thế Tôn):
Lòng tin đối người đời,
Là tài sản tối thượng.
Chánh pháp khéo hành trì,
Ðem lại chơn an lạc.
Chân lý giữa các vị,
Là vị ngọt tối thượng.
Phải sống với trí tuệ,
Ðược gọi sống tối thượng.
(Dạ-xoa):
Làm sao vượt bộc lưu?
Làm sao vượt biển lớn?
Làm sao siêu khổ não?
Làm sao được thanh tịnh?
(Thế Tôn):
Với tín, vượt bộc lưu.
Không phóng dật, vượt biển.
Tinh tấn, siêu khổ não.
Với Trí, được thanh tịnh.
(Dạ-xoa):
Làm sao được trí tuệ?
Làm sao được tài sản?
Làm sao đạt danh xưng?
Làm sao kết bạn hữu?
Ðời này qua đời khác,
Làm sao không sầu khổ?
(Thế Tôn):
Ai tin tưởng Chánh pháp
Của bậc A-la-hán,
Pháp ấy khiến đạt được,
Niết-bàn (chơn an lạc),
Khéo học, không phóng dật,
Minh nhãn khéo phân biệt,
Nhờ hành trì như vậy,
Vị ấy được trí tuệ.
Làm gì khéo thích hợp,
Gánh vác các trách nhiệm,
Phấn chấn, thích hoạt động,
Như vậy được tài sản,
Chơn thật đạt danh xưng,
Bố thí kết bạn hữu,
Ðời này qua đời khác,
Như vậy không sầu khổ.
Tín nam gia chủ nào,
Tìm cầu bốn pháp này,
Chơn thực và chế ngự,
Kiên trì và xả thí,
Vị ấy sau khi chết,
Không còn phải sầu khổ.
Ðời này qua đời khác,
Sau chết, không sầu khổ.
Ta muốn Ông đến hỏi,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Có những pháp nào khác,
Tốt hơn bốn pháp này:
Chơn thực và chế ngự,
Xả thí và kham nhẫn.
(Dạ-xoa):
Làm sao nay ta hỏi,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Khi nay ta được biết,
Nguyên nhân của đời sau.
Phật đến Alavi,
Thật lợi ích cho ta.
Nay ta được biết rõ,
Cho gì được quả lớn.
Nên ta sẽ bộ hành,
Làng này qua làng khác,
Thành này qua thành khác,
Ðảnh lễ Phật Chánh Giác,
Cùng đảnh lễ Chánh pháp,
Các vị chứng Pháp tánh.[1]
Theo Chú giải[2]ghi lại, cha mẹ của Āḷavaka được Phật Kassapa dạy cho các câu hỏi và trả lời này, và ông bà dạy lại cho Āḷavaka trong lúc thiếu thời.  Nhưng Āḷavaka không nhớ nên phải viết xuống những lá vàng bằng sơn son để cất giữ.  Lúc được Phật trả lời, Dạxoa soát thấy các câu trả lời ấy giống hệt các câu trả lời của Phật Kassapa.
Vào lúc chiều tối, quân thần của Vua Āḷavaka đem thái tử Āḷavaka Kumāra đến dâng Dạ xoa.  Thấy Dạ xoa reo vui sau khi nghe kinh Phật thuyết, mọi người đều kinh ngạc.  Tuy nhiên họ vẫn dâng thế tử và Dạ xoa trao thế tử cho Phật. Phật ban hồng ân cho thái tử và trả thái tử lại cho quân thần của Vua Āḷavaka.  Thái tử được trao tay từ Dạ xoa sang Phật rồi sang người của vua được gọi là Hathaka Āḷavaka.
Khi vua và thần dân nghe tin Dạ xoa theo làm đệ tử của Phật, họ xây ngay một trú xứ gần Vessavaṇa và cúng dường đủ thứ bông hoa, dầu thơm… đến Dạ xoa.




[1] Tương Ưng Bộ kinh 1, chương 10 – tương ưng dạ xoa, kinh Āḷava (S.i,218).
[2]SnA. i. 228-231.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

MÙA HẠ THỨ 15





Đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu đã an cư ba tháng mùa mưa tại ngôi chùa Nigrodhārāma, gần kinh thành Kapilavatthu. Ngôi chùa này do đức vua Mahānāma kiến lập để cúng dường và cung thỉnh Đức Phật với Chư Tăng trú ngụ. Và được biết là Đức Thế Tôn chỉ nhập hạ duy nhất một mùa an cư tại quê hương của mình.
Tathāgato hi mātipakkhato asītiyā, pitipakkhato asītiyāti dveasītiñātikulasahassehi kārite nigrodhamahāvihāre ekameva vassāvāsaṃ vasi.[1]
Ðức Thế Tôn chỉ ở lại một mùa an cư tại ngôi tịnh xá do hai nhánh thân tộc Ngài xây dựng, một nhánh gồm tám vạn gia đình bên ngoại và một nhánh gồm tám vạn gia đình bên nội.

Một sự kiện cũng đáng lưu ý là việc đức vua Thiện Giác (Suppabuddha) vì hận Đức Phật đã bỏ rơi con gái mình (công chúa Yasodharā) và làm cho con trai của mình (Devadatta) đi xuất gia nên vua đã rắp tâm ngăn cản Thế Tôn đi đến nơi mời Ngài thọ thực. Một hôm ông ngồi giữa đường, uống rượu mạnh, đón Phật để cản đường. Ðược loan tin Phật và Tăng chúng sắp đến, ông thản nhiên bảo:
- Hãy bảo ông cứ đi đường ông. Ông không lớn hơn ta, ta sẽ không tránh đường.
Thế Tôn bị từ chối nhường đường nên quay trở về. Thiện Giác sai bộ hạ do thám xem Thế Tôn có nói gì không. Khi quay về, Trưởng lão A-nan hỏi Phật tại sao Ngài mỉm cười và được Phật giải thích là vì vua Thiện Giác đã phạm lỗi nặng khi không chịu tránh đường cho một vị Phật đi qua, bảy ngày nữa nơi tầng trệt cung điện, ngay chân cầu thang, vua sẽ bị đất nuốt. Tên bộ hạ nghe được liền về báo lên vua. Thiện Giác vẫn còn căm hận nên quyết chứng minh Thế Tôn là người nói dối.
Vua cho mang hết các thứ cần dùng lên tầng cao nhất trong cung điện bảy tầng, sai dẹp cầu thang qua một bên và đóng cửa lại cài thanh ngang thật chắc, và có hai lực sĩ gác ở mỗi cửa. Vua dặn họ:
- Nếu ta có quên đi xuống, hãy làm ta trở lui.
Rồi vua vào ở trong căn phòng lộng lẫy trên tầng lầu thứ bảy. Thế Tôn nghe ông làm thế, bảo:
- Các Tỳ khưu ! Vua Thiện Giác sẽ không được như ý trên tầng lầu chót của cung điện. Dù ông ta bay lên trời, ngồi trong thuyền ra biển, hay vào trong lòng núi, lời của chư Phật cũng không thể nào sai chạy. Chắc chắn ông ta sẽ bị đất nuốt như Ta đã nói.
Và Ngài đọc lên bài kệ pháp cú:

Không trên trời, giữa biển,
Không lánh vào động núi,
Không chỗ nào trên đời,
Trốn khỏi tay thần chết.[2]
Bảy ngày sau, kể từ khi Thế Tôn bị cản đường, con ngựa chiến của vua bị xổng chuồng ở tầng trệt chạy chung quanh và đá vào tường này rồi đá vào tường khác. Vua đang ở tầng cao nhất nghe náo động liền hỏi và được trả lời tức thì. Ðến khi ngựa thấy vua, nó dịu xuống ngay. Vua muốn bắt nó nên đứng dậy ra phía cửa. Ðúng lúc ấy cửa tự động mở, thang trở về chỗ cũ, lực sĩ gác cửa túm cổ ông ta ném xuống. Cũng y như thế cánh cửa của bảy tầng lầu tự động mở, các cầu thang trở về chỗ cũ, và lực sĩ gác cửa nắm cổ ông ném xuống. Khi vua chạm đến tầng trệt, đại địa nứt ra nuốt sống ông ta và ông bị đọa vào địa ngục A-tỳ.







[1] DhpA.i.3
[2]Dhp.128

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

TIỂU SỬ CỐ HÒA THƯỢNG GIỚI NGHIÊM

Cố Hòa thượng Giới Nghiêm
(1921 - 1984)

Hòa Thượng Giới Nghiêm (Thitasilamahathera) thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 05/05/1921 tại làng Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống đạo đức lâu đời, tại một quê hương nghèo khổ, nhưng lại phát tích rất nhiều tu sĩ và cao Tăng thuộc cả hai truyền thừa Nam Bắc tông. Chỉ riêng trong gia đình, bác của Ngài - Hòa Thượng Thích Phước Duyên - và chú của Ngài đều là bậc xuất gia. Còn vị thân sinh - Hòa Thượng Thích Quang Diệu (Nguyễn Đình Tải) - sau nửa cuộc đời lập gia đình với thân mẫu của ngài là cụ bà Huỳnh Thị Thành, cũng xuất gia, sống đời sống phạm hạnh.
Lớn lên trong truyền thống gia đình như vậy, nên năm chín tuổi, ngài đã tìm đến một ngôi chùa hẻo lánh, nổi tiếng nhiếu thú dữ, ma thiêng nước độc, thuộc địa phận bãng lãng, để tu học. Ngài thọ Sa di giới ở đây.
Đến năm 1940, vì quê ngài chiến tranh loạn lạc, sự tu hành bị trở ngại, ngài đã vào Đà Nẵng, xin ở chùa Phổ Đà, sau đó thọ Đại Giới đàn Tỳ kheo, thuộc hệ phái Bắc truyền. Bấy giờ Phật Giáo Nam Tông (Theravada) bắt đầu du nhập vào Việt Nam, nhờ vậy ngài có cơ hội nghiên cứu giáo lý Nguyên Thủy. Vốn tâm cơ minh mẫn, bén nhạy, và do túc duyên của nhiều đời nhiều kiếp, Ngài cảm thấy đây mới thật đúng là Chánh Pháp, là giáo lý chơn truyền chưa hề bị pha trộn, xen tạp các tư tưởng của các đạo giáo khác.
Duyên may đã đến. Năm 1944, Ngài được thiện hữu trí thức giới thiệu và giúp đỡ sang du học tại Phnôm pênh, Campuchia. Năm 1947, Hòa Thượng Niếp Tích truyền giới tỳ kheo (Bikkhu) theo truyền thống phật giáo Nam Tông (Theravada) cho ngài. Ngài lại còn được kỳ duyên học đạo với Vua Sãi Campuchia, là trưởng lão Hòa Thượng Chuon Natch.
Do nhu cầu trí tuệ, hiếu học, hiếu tu; từ Campuchia, Ngài tiếp tục sang Thái Lan, Miến Điện để tầm sư học đạo, rồi pháp học, Ngài quay sang pháp hành; và ở tại Miến-Điện, ngài được học thiền Tứ Niệm Xứ với Hòa Thượng Thiền Sư Mahasi Sayadaw.
Thế là sau hơn mười năm bôn ba xứ người tầm cầu Chánh Pháp, Ngài hồi hương với chí nguyện, mang giáo lý nguyên thủy rất cổ xưa mà cũng rất mới mẻ về Việt Nam để quảng bá, hoằng truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp tín đồ.
Tại Sài Gòn - Gia Định, năm 1957, Ngài cùng với các vị trưởng lão cao Tăng, thạc đức khác, như Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Tối Thắng, Hòa thượng Giác Quang, Hòa thượng Kim Quang, Pháp sư Thông Kham vận động thành lập Giáo hội Tăng già Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) Việt Nam.
Năm 1963, trong lúc tranh đấu chống chế độ độc tài gia đình của Ngô triều, Ngài bị bắt ơ Sơn Trà - Đà Nẵng.
Sau khi gia đình họ Ngô sụp đổ, Ngài được bầu làm Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam liên tiếp trong bốn nhiệm kỳ, từ năm 1964 đến năm 1974.
 Năm 1966, Hòa Thượng phát động phong trào chống chế độ lao tù tại các nhà giam Mỹ Thị, Đà Nẵng và Gành Ráng, Quy Nhơn.
Năm 1975, Ngài tham gia vào ban liên lạc Phật Giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức vụ phó trụ trì.
Năm 1979, Ngài tái đắc cử Tăng Thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. Cũng năm này, Ngài được thỉnh tham gia phái đoàn cấp lãnh đạo Phật giáo nguyên thủy Việt Nam, đi Campuchia để làm thầy tế độ cho các sư sãi quốc độ này, đã bị Pôn-Pốt, Yeng Xê Ri bắt hoàn tục. Từ đó, Phật Giáo Campuchia được hồi phục và thắt chặt tình đoàn kết Việt Nam - Campuchia.
Năm 1980, Ngài vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ngài tham gia vào tổ chức này với tư cách là Phó trưởng ban.
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, thống nhất phật giáo Nam Bắc, thống nhất các hệ phái; Ngài được thỉnh vào Hội đồng chứng minh và được đề cử làm Phó chủ tịch hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ngoài ra, ngài còn tham dự nhiều hội nghị quốc tế về Phật giáo, đặc biệt là Hội nghị kết tập Tam Tạng lần thứ sáu tại Rangoon, thủ đô nước Mianma.
Trong suốt hơn năm mươi năm xuất gia hành đạo, hoằng pháp và phục vụ xã hội, Ngài để lại cho hậu thế nhiều công đức và nhiều công trình Phật sự to lớn.
Ngài mở một học viện tại chùa Tam Bảo - Đà Nẵng. Và tại ngôi chùa Tháp tôn nghiêm hùng vĩ này, nhiều khóa thiền đã được khai giảng để hướng dẫn cho các hành giả và chư Tăng, Tu nữ và các hàng phật tử.
Tại núi lớn Vũng Tàu, Ngài khai sơn một rừng thiền giữa thiên nhiên khoảng khoát, rợp bóng mát cây xanh, dành cho các hành giả chuyên tu Tứ Niệm Xứ.Nơi đây gồm hàng trăm cốc liêu rải rác giữa các sườn đồi, dưới nhũng tán cây cổ thụ lâu đời; là nơi mà Chư tăng, Tu nữ, Phật tử mười phương thường vân tập về vào mỗi độ an cư để theo học những khóa thiền ba tháng hoặc bảy tháng. Tại Tam Bảo thiền viện này, có rất nhiều hành giả đã đạt kết quả pháp hành tốt đẹp, khả dĩ làm hành tranh tư lương cho mình suốt đời tu tập.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, quận Tân Bình ngài mở Phật học viện trung đẳng tại chùa Phật Bảo, nơi Ngài làm Viện chủ và Tiến sĩ Thiện Giới làm Giám đốc Phật học viện. Nơi đây đào tạo nhiều tăng tài cho hệ phái Nam Tông.
Sau năm 1975, Ngài tiếp tục mở nhiều khóa thiền tại chùa Phật Bảo và thường hay lui tới các chùa để nhắc nhở, sách tấn tứ chúng muôn đồ tinh tấn tu niệm.
Về sự nghiệp xây dựng chùa chiền: Từ miền Nam đến Cao nguyên, rồi ra miền Trung, đâu đâu cũng có bàn tay và dấu chân của Ngài trong sứ mạng khai sáng Giáo Pháp chân truyền của Đức Từ Phụ.

Ngài đã xây dựng hoặc đứng ra chủ trì xây dựng tất cả mười sáu ngôi chùa sau đây: 
Huế: Định Quang Tự ở Gịa Lê, Tăng quang Tự ở Gia Hội.
Đà Nẵng: Tam Bảo Tự, tổ đình Phật giáo Nam tông miền Trung.
Hội An: Nam Quang Tự.
Quãng Ngãi: Tăng Bảo Tự.
Quy Nhơn: Huệ Quang Tự ở Quy Nhơn, Phước Quang Tự ở Bình Định.
Nha Trang: Nhũ Ý Tự.
Phan Thiết: Bình Long Tự.
Đà Lạt: Bửu Sơn Tự, Pháp Luân Tự.
Mỹ Tho: Pháp Bảo Tự.
Biên Hòa: Phước Sơn Tự.
Bà Rịa-Vũng Tàu: Tam Bảo Thiền viện.
Thành phố Hồ Chí Minh: Phật Bảo Tự, Diệu Quang tự (dành cho Tu nữ).

Về sự nghiệp phiên dịch kinh điển của Ngài, gồm có:

NHỮNG TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:
1. Hạnh phúc kinh.
2. Tiểu sử Phật Thích Ca.
3. Giải về kiếp.
4. Thiền tứ niệm xứ
5.  Giải về bạn.
6. Bộ Mi tiên vấn đáp. (1,2,3)

SẮP XUẤT BẢN:
1. Pháp đoàn kết .
2. Giải thoát giáo.
3. Giải về cõi trời.
4. Phật bổn sinh.
5. Giải về lửa.
6. Dạ xoa hỏi Phật.
7. Nhà của tâm.
8. Vô ấn tượng Pháp.
9. Kinh ổ mối.
10. Vi Diệu Pháp vấn đáp.
11. Ba mươi bảy Pháp trợ Bồ Đề.
12. Pháp số giảng giải.
13. Vi diệu Pháp vắn tắt.
14. Tam Tạng, quyển 1;2;3;4.
15. Tam Tạng, quyển 40;41. 

Ngoài những sự nghiệp vĩ đại ấy, Ngài lại còn có số đệ tử xuất gia đông đảo nhất của Phật giáo Nam tông. Một số du học ở nước ngoài đã thành tài, đã trở thành cao Tăng, đang hoằng pháp ở Mỹ và Pháp, như Hòa thượng Tiến sĩ Pháp Nhẫn, Thượng tọa Tịnh Đức, Thượng tọa Chơn Trí, Thượng tọa Đức Minh v.v...Ở trong nước hiện nay, nhiều đệ tử do ngài tế độ hoặc hướng dẫn đã trở nên những bậc trưởng lão cho tứ chúng y chỉ, hoặc đạo cao đức trọng, hoặc trì đức uyên thâm, hoặc thâm niên cao hạ...như cố Hòa thượng Hộ Nhẫn ở Huế, cố Hòa thượng Pháp Tri ở Sài Gòn, Hòa thượng Viên Minh ở Bửu Long, Thượng tọa Tâm Hỷ, Thượng tọa Hộ Chơn v.v...
Như vậy cuộc đời ngài đi qua trần gian không dài, nhưng đã làm việc hết sức mình cho chánh Pháp, cho xã hội, cho môn đồ.
Năm 1984, đến khi lâm trọng bệnh, mặc dù đã được hội đồng Y- Bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy hết sức cứu chữa cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Giáo hội, các cấp chính quyền, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 10h30' ngày 13 tháng 7 năm Giáp Tý, tức ngày 09/08/1984 tại chùa Phật Bảo, hưởng thọ 63 tuổi.
Hàng năm, vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, toàn thể chư Tăng - Tu nữ và tín đồ Phật giáo Nam tông và Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm lễ tưởng niệm Cố Hòa thượng, một vị Trưởng lão sáng lập Hệ phái Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, một thiền sư đạo hạnh nghiêm minh, một bậc thầy từ hòa khả kính, một cao Tăng nhiệt tình trong hàng Giáo phẩm tôn túc của Giáo hội phật giáo Việt Nam.
Trước sự mất mát to lớn ấy, các hàng đệ tử đã đóng góp tịnh tài và công sức xây dựng ngôi Bảo tháp tại chùa Phật Bảo, tôn trí linh cốt của Ngài để tưởng niệm công đức và thể hiện hạnh tri ân, quanh năm trầm hoa kính viếng, chiêm bái phụng thờ.
Dẫu Ngài đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng bóng mát đại thụ mãi còn che phủ các ngôi già lam, nơi Ngài đã dày công kiến tạo và giáo huấn môn đồ suốt một đời không mệt mỏi. 

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

MÓN NỢ ÂN TÌNH


Sông dài sánh với núi cao
Đạo mầu đền đáp ân sâu mẫu từ
TÔN GIẢ SĀRĪPUTTA TRƯỚC KHI VIÊN TỊCH
CỐ GẮNG VỀ QUÊ ĐỂ ĐỘ THÂN MẪU.


Hiếu dưỡng với bậc sanh thành là một trong những chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam chúng ta, ngoài ra đó còn là một trong những bổn phận cao cả và thiêng liêng của người con Phật. Cha Mẹ đã sinh ra ta, nuôi lớn ta, để ta có mặt trong cuộc đời này, ân tình đó dù chúng ta có làm cách nào đi nữa thì cũng khó mà đền đáp được. Đức Phật đã dạy:
Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng Mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, Mẹ Cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ Mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí Cha Mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ Mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Cha Mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này[1]...
Cho dù chúng ta là những người con chí hiếu, chúng ta là bậc đế vương, tiền bạc cao ngất như núi, đem hết mọi thứ sang trọng, quý báu cụng phụng Cha Mẹ thì cũng không thể nào đền đáp được thâm ân của Cha Mẹ đối với ta. Vì ân đức của Cha Mẹ và những gì Cha Mẹ hy sinh cho con cái quá lớn, quá bao la đến nỗi không thể đong đếm được, không thể bàn đến được.
- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa Mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?

- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa Mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy! Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa Mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển[2].
Là người con của Cha Mẹ, chúng ta cũng vừa là con Phật, ngoài việc cung phụng, hiếu thuận với Cha Mẹ, song song đó chúng ta cần phải hướng Cha Mẹ đến với Tam Bảo, có niềm tin nơi Tam Bảo và thực hành theo lời Phật dạy. Vì những món ngon vật lạ hay trân châu quý báu, có cho đến Cha Mẹ cũng chỉ hưởng trong một thời gian ngắn ngủi của kiếp này, sau kiếp này thì những món đó chẳng có tác dụng gì với Cha Mẹ cả. Là người con Phật, mình hướng tâm Cha Mẹ đến tam bảo, để Cha Mẹ biết cách tạo phước báu, an trú Cha Mẹ vào trong tín, giới, thí và tuệ. Đó mới là cách báo hiếu tròn vẹn đến Cha Mẹ.
Này các Tỷ-kheo, ai đối với Cha Mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với Mẹ Cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với Mẹ Cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với Mẹ Cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ Mẹ và cha[3].
Cuộc đời của Ngài Sāriputta, bậc Tướng quân Chánh Pháp, cả cuộc đời Ngài là vầng sử rạng ngời đáng cho hang hậu học kính nể và nương theo tu học. Một câu chuyện ghi lại, Ngài đã giúp tế độ cho người thân mẫu của Ngài vào một kiếp quá khứ xa xưa, như là đáp trả món ân tình đã vay mượn từ thuở nào.
Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Anuruddha và Tôn giả Kappina trú tại một khu rừng không xa Vương Xá thành lắm. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang đi kinh hành trong đêm, có một nữ dạ xoa muốn đi đến yết kiến với Tôn giả nhưng các vị chư thiên bảo vệ tịnh xá không cho dạ xọa vào bên trong. Nữ dạ xoa nói với các chư thiên rằng : mình là Mẹ của Tôn giả cách đây bốn kiếp về trước nên xin các vị ấy cho vào trong để thăm viếng ngài Tôn giả. Chư thiên nghe vậy cho nàng vào. Khi đã vào, nàng dạ xoa ấy đã hiện hình ra trước mặt Tôn giả ngay tại cuối con đường kinh hành. Nàng thuật lại câu chuyện quá khứ của mình, do đã tạo ác nghiệp mắng chửi, nguyền rủa các vị xuất gia nên phải chịu cảnh khổ như thế này. Dạ xoa cầu xin Tôn giả bố thí cúng dường vật thực và hồi hướng phước đến cho mình để thoát khỏi sự đau khổ.
Sáng hôm sau, nhân khi đi khất thực trong thành Vương Xá, các ngài đến gặp vua Bình-sa, và Tôn giả Mahāmoggallāna thuật lại câu chuyện ấy cho vua nghe. Nhà vua hoan hỷ phát tâm trong sạch hứa sẽ giúp Tôn giả Sāriputta. Vua truyền lệnh cho các quan dựng bốn tịnh thất trong khu rừng ngoại thành, và sửa soạn vật thực, đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó, nhà vua chuyển toàn bộ những thứ ấy đến Tôn giả Sāriputta. Nhân danh Mẹ của mình, Tôn giả Sāriputta bố thí cúng dường đến Đức Phật và Tăng đoàn, rồi hồi hướng công đức phước báu đến cho bà. Nhờ đó, bà được tái sinh vào cõi Trời Phạm Thiên[4].
Đó là món nợ còn thiếu trong quá khứ xa xưa, còn đối với món nợ ân tình của Ngài trong kiếp này, trước khi viên tịch Níp-bàn, Tôn giả Sāriputta đã thực hiện một chuyến du hành cuối cùng trong vòng luân hồi để Ngài trở lại quê hương, nơi ngôi làng cũ, nơi chăn nhà mà Ngài đã sinh ra để tế độ thân mẫu.
Thân mẫu của ngài tên là Rūpasārī, là một tín đồ thuần thành của Bà-la-môn giáo, mặc dù bảy người con[5]yêu quý của bà đều xuất gia trong Giáo pháp của đức Phật và đều đắc thánh quả A-la-hán nhưng bà không có niềm tin nơi Tam Bảo và cũng rất không thích chư Tăng. Vì bà nghĩ rằng, chính đức Phật và những vị đệ tử Phật đã lôi kéo những đứa con trai, con gái bỏ bà để đi xuất gia.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta tuổi đã cao, sức khỏe đã ngày càng suy kiệt, Ngài biết rằng nhân duyên của mình sắp mãn nên đã xin phép đức Phật về quê hương tiếp độ mẫu thân và viên tịch tại nơi đó.
Tôn giả từ giã đại chúng và dẫn theo 500 Tỳ-kheo về quê hương mình. Trên đường về gần đến ngôi làng thuở xưa của mình, Tôn giả gặp đứa cháu trai và bảo người cháu về thông báo với Mẹ Ngài rằng: Tôn giả Sāriputta đã trở về và xin ở lại căn phòng thuở xưa lúc Ngài chào đời. Người cháu vô cùng mừng rỡ, vội vàng chạy về báo tin. Dù rằng bà Sārī rất ghét Tăng đoàn, rất giận người con cả, nhưng lòng yêu thương con không bao giờ vơi cạn, bà đổi giận làm vui để tiếp đón chư Tăng. Tối đêm ấy, ở ngay căn phòng thuở xưa lúc chào đời, Tôn giả đã trở bệnh kiết lỵ. Lúc bấy giờ, có vị thị giả đang hầu hạ, cứ vào ra với những cái bô trên tay. Bà sārī rất quan tâm đến người con cả, nhưng vẫn còn đứng ở bên ngoài phòng của Tôn giả quan sát.
Khi ấy, các vị thiên vương, thiên chủ,phạm thiên lần lượt hiện vào phòng để kính lễ tôn giả, hào quang của các vị ấy làm cho cả căn phòng và khu vườn nơi Tôn giả Sāriputta đang ở sáng rực hào quang. Sau khi các vị Thiên chủ đã ra đi, bà vội vàng vào phòng của Tôn giả để hỏi thăm về những vị trời ấy. Tôn giả đã từ tốn giải thích đó là những vị trời nào, sự hộ pháp của họ ra sao, đã hầu hạ đức Phật trong lúc đản sanh, sự thưa thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân lúc mới thành đạo như thế nào, v.v… Nghe xong, vô cùng kính phục, bà không ngờ người con của mình cao cả đến độ các vị trời cao quí, ngay cả đến Đại phạm thiên, Brahma (vị trời cao cả nhất, tối thượng nhất mà cả dòng tộc bà cũng như bản thân bà luôn kính ngưỡng phụng thờ, cầu nguyện hàng trăm năm nay) lại chỉ là người hầu của con mình, là đệ tử của đức Thế Tôn. Trong tâm bà phát khởi tín tâm, suy nghĩ: “Nếu oai lực của người con trai mình như thế thì oai lực vô biên của đấng Bổn sư của con mình còn to lớn biết chừng nào!”
Bằng sự kính ngưỡng cao cả chưa từng có, đồng thời nghe xong bài pháp ngắn về công đức Phật, Pháp, Tăng của Tôn giả, toàn thể châu thân bà Sàri rúng động, niềm tin tối thượng về đức Phật, về người con vĩ đại của mình, cũng như về Tam Bảo. Niềm hoan hỷ, an lạc bất tận phát sinh đến từng chân tơ kẻ tóc, bà đã chứng đắc được quả vị Tu-đà-hoàn, chính thức bước vào dòng Thánh, chắc chắn sẽ đạt đến giải thoát, an lạc.
Quá xúc động, bà Sàri đã thốt lên với Tôn giả: : "Này người con đáng kính của Mẹ! Này ngài Upatissa, tại sao trong suốt những năm qua con không ban bố cho Mẹ một sự hiểu biết bất tử này?"
Khi biết thân mẫu của mình đã đạt được thánh trí, ngài bèn nghĩ: "Giờ thì ta đã đền đáp xong công ơn sinh thành của người Mẹ ta rồi, người thiếu phụ Bà-la-môn mà trước đây dân làng ai cũng tôn kính và đều gọi là Rūpasārī. Chính nhờ bà, ta đã nên người. Pháp bảo mà ta vừa giảng cho bà thế là đủ".
Đáp trả xong món nợ ân tình ngày nào, trách nhiệm của Ngài đã xong, phận sự cũng chẳng còn gì để làm, Ngài đã viên tịch Níp-bàn không còn dư sót chút đau khổ nào. Ngày đó nhằm ngày trăng tròn tháng Kattika (khoảng tháng 10 âm lịch).
Toàn bộ cuộc đời Ngài đã cống hiến hết cho sự nghiệp hoằng pháp, là bậc Tướng quân Chánh Pháp, bậc Thượng thủ Thinh văn bên tay phải của đức Thế Tôn, vậy mà đến phút cuối cuộc đời, Ngài vẫn không quên báo đáp thâm ân của đấng sinh thành. Chúng ta hãy noi gương ngài, hãy mau mau quay về đáp đền ân tình của Cha Mẹ trước khi quá muộn màng.




[1] Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Hai Pháp, Phẩm Tâm Thăng Bằng, Phần Ðất.
[2] Tương Ưng Bộ Kinh 2, Chương IV - Tương Ưng Vô Thỉ, Phẩm Thứ Nhất, Phần Sữa.
[3] Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Hai Pháp, Phẩm Tâm Thăng Bằng, Phần Ðất.
[4] Chú giải Ngạ quỷ sự. Tích truyện Ngạ quỷ Mẹ của Ngài Xá-Lợi-Phất.
[5] Bà có bảy người con tất cả: Sāriputta, Upasena, Mahācunda, Revata Khadiravaniya, Cālā, Upacālā và Sisūpacālā.