Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Những cánh đồng hoa bất tận ở Việt Nam

Không cần đi đâu xa xôi ở các xứ người, ngay tại xứ mình cũng có những cánh đồng hoa bạt ngàn đến bất tận. Cứ mỗi độ hoa khoe sắc là biết bao nhiêu người rình rập đón chào để chụp hình. Hãy ghi nhớ địa điểm và thời gian hoa nở rộ để tranh thủ phượt vài chuyến và ghi dấu lại chân tại những nơi tuyệt đẹp trên xứ sở mình nhé...
Hoa ban là biểu tượng nổi tiếng của khu vực Tây Bắc. Cứ đến tháng 2 âm lịch, loài hoa có hương thơm quyến rũ này lại nở trắng nhiều sườn núi ở Sơn La, Điện Biên, báo hiệu sự bắt đầu của mùa xuân mới.
Ảnh: Khánh Hmoong.

Cuối tháng 11 là thời gian mà hoa cải trắng nở rộ trên các thảo nguyên ở Mộc Châu, Sơn La. Dù không rực rỡ như cải vàng, cải trắng mang một vẻ đẹp riêng, gợi nhiều cảm xúc trong lòng người.
Ảnh: Bảo Ngọc.

Từ khoảng tháng 10, 11 âm lịch đến giáp Tết, hoa cải sẽ nhuộm vàng nhiều cánh đồng gần sông Đuống, thuộc địa phận huyện Gia Lâm của Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh. Đáng tiếc rằng việc các bạn trẻ đổ đến đây chụp ảnh “đông như kiến” khiến một số cánh đồng này mất đi vẻ thơ mộng vốn có của nó.
Ảnh: Bui Tuan Khiem.

Đến tháng 11 dương lịch, thành phố Đà Lạt và khắp vùng cao nguyên Langbiang của tỉnh Lâm Đồng trở nên “sáng bừng” vì sắc vàng tươi của hoa dã quỳ. Loài hoa này cũng được bắt gặp ở ven những con đường của vùng Tây Bắc.

Vào mỗi độ xuân về, sắc hồng của đào rừng lại tô thắm cho cảnh sắc núi rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Lạng Sơn, Sơn La… Tuy vậy, “mốt” chơi đào rừng của dân thành phố vào ngày Tết đã dẫn đến tình trạng chặt phá đào rừng vô tội vạ, khiến những khung cảnh thơ mộng này đứng trước nguy cơ biến mất ở nhiều nơi.
Ảnh: Kangguruhp.

Màu trắng tinh khiết của hoa mận Tây Bắc những ngày đầu tháng 2 sẽ gây ấn tượng sâu đậm cho bất kỳ ai có may mắn được chứng kiến. Những địa điểm nối tiếng trồng nhiều mận là Bắc Hà (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La).

Hoa sưa là một loài hoa “đặc sản” của Hà Nội, chỉ nở trong một thời gian ngắn ngủi vào khoảng cuối tháng 3. Vào thời điểm đó, người đi đường sẽ ngỡ ngàng khi chứng kiến những chùm hoa trắng như tuyết phủ kín một góc trời trên các đường phố ở trung tâm như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Thanh Niên, Điện Biên Phủ...
Ảnh: Tayngang.

Vào đầu tháng 10, cuối tháng 11, các cánh đồng ở Hoàng Su Phì, Xín Mần, Phó Bảng, Phố Cáo, Sủng Là, Đồng Văn, Lũng Cú… thuộc tỉnh Hà Giang sẽ rực rỡ sắc hoa tam giác mạch. Loài hoa này lúc chớm nở có màu trắng, sau chuyển sang phớt hồng và đỏ sậm, sau 1 tháng thì tàn.
Ảnh: Phamngoctrien.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

LIFE OF THE BUDDHA (Picture)



During Phra Mick’s visit in Penang… Kean Beng Tan helped him obtain this beautiful ‘Life of the Buddha’ pictorial book from Dhammikarama Burmese temple.  The Abbot was extremely kind to me and this book was donated by the monastery’s gift shop.

Sadhu!  Sadhu!  Sadhu!
SUMEDHA, the wise man inherited a vast fortune from his parents who left them upon their deaths. Realizing the unsatisfactoriness he gave away his fortune and became an ascetic in the forest. He soon gained mastery in meditation and was well known for his supernormal powers.
When ascetic Sumedha knew of the coming of Dipankara Buddha to the city of Rammavati, he took part in preparing the road for the Buddha. He was still repairing it when the Buddha arrived but he was determined to complete it by prostrating himself into the muddy hollow, in fulfillment of his vow to become a Buddha. Beside him was a young lady named Sumitta bearing eight stalks of lotus flowers. She gave the Ascetic five stalks and kept for herself three stalks for her own aspiration.  When the Buddha Dipankara saw this, He omnisciently declared the Ascetic Sumedha a future Buddha, while He stated that the aspiring young lady Sumitta would be his constant companion and helpmate. 
The Devas (Gods) imploring the Bodhisatta Santussita Deva (whose real name was Setaketu) in Tusita heaven to be reborn on earth to become a Buddha. He accepted their request after viewing the Five Great Considerations (Panca Maha Vilokana); which are appropriate time, Island-continent, country, clan and life-span of mother. 
 At Lumbini Park in Nepal, on Vesakha Full Moon Day, the newly born Prince walked seven steps on the lotus flowers and pointing to the North said, “AGGOHAM ASMI LOKASSA” meaning “Chief Am I in this world”. The birth of this baby Prince brought great joy to his royal parents, King Suddhodana and Queen Maha Maya as well as all beings!
The marriage of Prince Siddhattha and Princess Yasodhara (whose real name was BaddaCancana ) took place at the Golden Palace which was presented by his father, King Suddhodana. It was a luxurious palace full of comforts of life . The celebration lasted many days. 
 During his visit to the Royal park, Prince Siddhattha saw the Four Great Signs, namely — an old man, a sick man, a corpse and a serene mendicant. These made the Prince to realize the unsatisfactoriness of life and urged him to ponder deeply about renunciation.
Mara (the Evil One), with his host tried without success to prevent Prince Siddhattha from his Great Renunciation at midnight . Prince Siddhattha was riding on Kanthaka his fovourite stallion and followed by Channa his loyal charioteer. Mara said that if the prince did not proceed on his renunciation, he would become a Universal Monarch on the seventh day. 
 Prince Siddhattha cut off his hair to renounce the worldly life at the bank of the Anoma River. Ghatikara Maha Brahma presented the Monk’s Eight Requisites to Ascetic Siddhattha, who commanded his charioteer Channa to take his royal chattels back to the palace.
His hair was received by Sakka, King of Gods and enshirned in CULAMANI CETI (pagoda) in his celestial abode in TAVATIMSA. Similarly, Ghatikara Maha Brahma bore his princely clothes to his higher celestial abode, Akanittha and enshrined them in the pagoda known as DUSSA CETI.
 The ascetic Bodhisatta spent six years practising austerity and meditation with steadfastness as well as earnestness, prior to his attainment. Even though he was reduced to a mere skeleton, he did not give up practising.
 The Bodhisatta was sitting on a Golden Throne under a Bodhi tree and being challenged by Mara (the Evil One) riding on the ferocious elephant Girimekhala. Mara with host tried to capture the Golen Throne just before the Bodhistta’s Enlightenment.
On Vesakha Full Moon day, Bodhisatta Siddhattha seated under a Bodhi tree at Gaya, attained Supreme Enlightement. On the first watch of the night he gained knowledge by which He remembered past lives. On the second watch of the night he was able to see into the future including the birth and death of other beings. On the third watch of the night, He destroyed all defilements and became a Fully Enlightened One (Samma-Sambuddha). 
It was in the final week (7th week) after his Enlightenment, when the two merchant brothers Tapussa and Bhallika from Ukkalapa passed by the spot and saw the Buddha. They offered the Buddha their own provision; then the Buddha gave eight strands of hairs from His head for them to worship as sacred objects of veneration.The hair relics are now enshrined in the Shwedagon Pagoda in Yangon, Myanmar. 
At the Deer Park at Varanasi, the Buddha met the five ascetics, Kondanna, Vappa, Bhaddiya, Mahanama and Assaji all of whom He had known before .He delivered His first sermon to them. It is called the Dhammacakkapavattana Sutta which sets the wheel of the Dhamma in motion. The ascetic Kondanna who was at His childhood Name-giving Ceremony became the first to see light in the Dhamma and attained Sotapanna, the first stage of Sainhood.
Later, all attained Arahantship after hearing the Anatalakkhana Sutta (the Discourse which deals with No-Self) 
 The Buddha exhorted His first sixty Arahant disciples to go forth in different directions to preach the Doctrine, using these famous words: – “Go ye, 0 bhikkhus and wander forth for the gain of many, for the welfare of the many, in compassion for the world, for the good, for the gain, for the welfare of the Devas (Gods) and men . Proclaim ye, 0 Bhikkhus! The Doctrine that is glorious and preach ye a life of holiness, perfect and pure!”
 When the Bodhisatta visited Rajagaha, the capital of Magadha, King Bimbisara offered his Kingdom to the Bodhisatta. But He did not accept it because of the worldly pleasures. After listening to the preaching of Buddha, the King attained the first stage of Sainthood (Sotapanna). He then dedicated his Royal park known as Veluvana (Bamboo Grove) to the Buddha and His disciples.
The Buddha performed the Twin Miracles of emitting fire and water simultaneously from His body, to subdue the pride of his older relatives who had erroneously thought that the Buddha being the younger would have to show respects to them. 
 On the seventh day after his arrival in Kapilavatthu, Princess Yasodhara dressed up Prince Rahula and pointing to the Buddha said, “Behold, son, the great Ascetic of majestic appearance is your father. Go up to him and ask for your inheritance!”
As advised by his mother, young Rahula came to His presence and asked for his inheritance. Instead, the Buddha told Venerable Sariputta to ordain Prince Rahula , giving him a spiritual inheritance better than the one he asked for.
 During a subsequent visit to Rajagaha City, the Buddha went for alms-round in the company of His Chief Disciples and other monks. Along the way King Bimbisara and his royal family paid repects to the Buddha and His disciples.
 The Buddha delivering a sermon of peace to two powerful warning armies of Kapilavatthu and Koliya at the opposite banks of the Rohini river before the two countries started fighting for the water supply of the river, for pastoral use.
The Order of Nuns (Bhikkhuni Sasana) was founded in the fifth year of the Buddha’s Enlightenment. After the death of King Suddhodana, Maha Pajapati Gotami , who was His former foster mother desirous of joining the Order ,approached the Buddha who was then, residing at Kapilavathu and begged permission for women to be admitted into the Order. After hearing and turning down their pleas, Buddha returned to Vesali for the Rains Retreat . Undaunted by the rebuff, Maha Pajapati Gotami cut off her hair and wearing yellow garments went on foot to Vesali, accompanied by many other Sakyan ladies. They stood outside the porch of the Pinnacled Great Hall in Mahayana where the Buddha was residing. Interceded by Venerable Ananda , the Buddha finally consented to establish the Bhikkhuni Sasana when Maha Pajapati Gotami and other Sakyan ladies agreed to observe the Eight Disciplinary Rules for nuns. Henceforth Maha Pajapati Gotami and other Sakyan ladies were admitted into the Order.
Later, the Nuns Khema and Uppalavanna were appointed the two Chief female Disciples; as were Sariputta and Moggalana the two Chief Male Disciples. 
 After losing in lively debate, the haughty hermit Saccaka refused to answer accordingly when the Buddha asked a question. Only when he was threatened to be beaten up by a celestial demon for arrogance, only then did he finally realize his own folly and listened to the Buddha’s preaching meekly. This wholesome action of his would augur well for his future.
 On the seventh year after His Enlightenment, the Buddha preached the Abhidhamma (higher Doctrine) in Tavatimsa Heaven. As a fulfillment of gratitude to his former mother, now a Santussita deva, the Buddha then delivered a sermon on the Higher Doctrine to thousands of Devas (Gods) and Brahmas (higher celestial beings) who attained the various stages of Noble Sainthood.
The non Buddhist sectarians grudgingly wanted to ruin the Buddha’s reputation. They told Cinca Manvika , a beautiful girl to falsely accuse the Buddha for her shamed, pregnancy in a big and august assembly. King of Devas (Gods) dispatched some Deities disguised as mice to gnaw through the strings holding a block of wood under her garment. Her plot was exposed when the wood fell on her feet. When the people saw that, they threw stones and chased her away. As she was walking away, the earth spilt open and a flame sprang up to envelop and drag her down to Avici (deepest and worst) Hell. 
On the sixteenth year of His Enlightment, the Buddha tamed the carnivorous Demon King , Alavaka who feasted on human flesh, to give up his habit on devouring at least one human being everyday. After hearing the Buddha’s Teaching, he henceforth gave up his habit, thus sparing the small child offered to him as food on that day. 
 There was a young harmless student at TAKKASILA University called Ahimsa. His jealous fellow students poisoned the mind of their teacher against him. As a result the teacher asked Ahimsa for a garland of one thousand right index fingers as tuition fee. Eager to discharge his obligation, he went into the Jalini forest in Kosala and started to waylay the passing travellers to collect an index finger from the right hand of each victim. The garland was almost completed except for one more single finger. Ahimsa decided to kill even his own mother for the sake of completing the one thousandth finger in the garland. However, Ahimsa was intercepted by the Compassionate Buddha who came to his aid. After listening to His preaching and being convinced, Ahimsa now known as Angulimala (garland of fingers ) joined the Sangha and became a Bhikkhu (monk) . The Angulimala Sutta, a discourse ascribed to this Thera (elder/monk) and connected to this event, is well-known in Buddhist countries and often used by pregnant ladies in travail for easy and safe delivery.
 Once the Buddha and His Disciples went to Lake Anotatta passing by the mansion of Nandopananda the dragon king who was enjoying himself with his retinue. Angry at the apparent trespassing, Nandopananda coiled itself seven times round Mount Meru, covered the summit with its hood and spewing hot poisonous smoke to prevent the Buddha and his disciples from reaching lake Anotatta. Thereupon Maha Moggalana, (the second Chief Disciple) at once transformed himself into a dragon and likewise coiled round the mountain, crushing Nandopananda. Watched by the Buddha and His disciples, Maha Moggalana too began spewing hot poisonous smoke which greatly distressed Nandopananda who soon lost the challenge and upon realization of his folly, sought refuge in the Triple Gem of Buddhism.
 The Buddha taking care of a sick monk, named Tissa who had been neglected by his unthoughtful fellow monks. By so doing, the Buddha wanted to foster mutual care and welfare amongst the Bhikkhus as well as others.
Baka Brahma, who was bitten by the snake of tenacious heresay (in believing that the Brahma Loka is the best and everlasting world in existence) , was duly defeated by the Buddha in a mutual contest to show power. On hearing the Buddha’s profound expounding of the Dhamma (Buddhist Doctrine), he became enlightened along with many other Brahmas (higher celestial beings). 
 When the Buddha was on his way to the city of Rajagaha, Devadatta ordered the release of the fierce elephant, Nalagiri, to harm Him. As the elephant charged towards the Buddha, everyone ran away leaving a mother and her baby on the ground. The Buddha radiated His infinite Compassion to calm and subdued the elephant before it could trample the helpless baby.
1.  The Buddha at Kusinara laid himself between two Sal trees with his head to the North, determined not to rise again. He them delivered his last admonition, “Behold, 0 Disciples! I exhort you ! Subject to change are all component things! Strive on with Diligence !” before He entered Maha parinibbana (attainment of Final Emancipation).
2.  Dona , the Brahman divided the Buddha’s relics into eight equal portions and distributed each of them to the Rulers of the eight countries. Then Dona decided that the golden container be kept for himself as an object of respectful veneration.


Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

45 MÙA AN CƯ CỦA ĐỨC PHẬT




Sau khi đạt thành quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội Bồ-đề (Bodhirukkha) vào ngày trăng tròn tháng Vesak năm 588 TCN, trong suốt 45 năm hoằng truyền Chánh Pháp, Ngài đi khắp mọi nẻo đường khắp Trung Ấn Độ. Với 45 năm cống hiến vì mục đích đem cánh cửa bất tử đến cho những người hữu duyên thấy được Chánh Pháp, Ngài đã trải qua những mùa an cư mua mưa tại nhiều nơi để tiếp độ nhiều người với những bài pháp tùy theo căn cơ của chúng sanh.
Căn cứ vào Chú giải bộ Phật sử (Buddhavaṃsa-aṭṭhakathā) với tên gọi là Mahuratthavilāsinī do ngài Đại Trưởng lão Buddhadatta biên soạn cùng với một số nguồn tại liệu kinh điển khác, chúng ta có thể tóm gọn 45 năm hoằng pháp của Đức Thế Tôn với những sự kiện như sau:

Mùa an cư thứ 1:

Vào ngày rằm tháng 6, sau khi thành đạo được hai tháng, Đức Phật vận chuyển bánh xe pháp tại vườn Lộc Uyển, ở Isipattana để tiếp độ cho nhóm 5 anh em của Ngài Kiều Trần Như (Koṇḍañña) với bài pháp đầu tiên là bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta)[1]. Với bài pháp này, Ngài Kiều Trần Như đã thành tựu được Thánh quả Nhập lưu và xuất gia tỳ-khưu với hình thức “Ehi Bhikkhu!”, trở thành vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật Giáo. Vào ngày 16 cho đến ngày 19 tháng 6 thì lần lượt các Ngài Vappa, Ngài Bhaddiya, Ngài Mahānāma và Ngài Assaji cũng đắc được Thánh quả Nhập lưu và cũng được xuất gia bằng “Ehi Bhikkhu!”. 
Sau đó, ngày 20 tháng 6 thì Đức Thế Tôn thuyết bài Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇsutta) đến cho 5 vị tỳ-khưu và cuối thời pháp các Ngài đã thành tựu được Thánh quả A-la-hán. Như vậy là chỉ 5 ngày đầu tiên của mùa an cư thứ nhất, Đức Thế Tôn đã thuyết pháp tiếp độ được 5 vị Thánh Tăng đầu tiên để mở đầu cho công cuộc hoằng pháp của Ngài.
Sau đó, ngài còn tiếp độ cho thanh niên Yasa[2] cùng với 54 người bạn xuất gia và trở thành những vị Thánh Tăng. Phụ mẫu và người bạn đời trước kia của ngài Yasa cũng quy y Tam Bảo và trở thành những người quy y Tam Bảo đầu tiên trong Phật Giáo. Như vậy bấy giờ có tất cả 60 A-la-hán và Đức Phật cho phép các vị này đi hoằng pháp khắp bốn phương.

Mùa an cư thứ 2-3-4:

Sau khi tiếp độ đức vua Bimbisāra (Bình Sa Vương) và tiếp nhận ngôi Tịnh xá Trúc Lâm (Veḷuvanavihāra – ngôi Tịnh xá đầu tiên trong Phật Giáo) gần thành Rājagaha (Vương Xá thành). Và chính tại nơi này, Đức Thế Tôn đã cùng với chư Tăng nhập hạ suốt 3 mùa an cư. Đức Phật không ở suốt nơi này 3 năm, mà ngài chỉ trú tại đây suốt 3 tháng mùa mưa thôi rồi Ngài tiếp tục du hành thuyết pháp cho đến khi mùa mưa thì Ngài lại trở về Trúc Lâm Tịnh xá an cư mùa mưa.
Trong những năm này, ngài đã tiếp độ được rất nhiều đệ tử, như là 30 công tử Bhaddavaggiyā, ba anh em đạo sĩ thờ lửa Kassapa cùng 1000 đồ chúng, hai vị Thượng thủ Thinh văn Sāriputta và Moggallāna[3], Phụ vương Suddhodana đắc A-na-hàm, Hoàng hậu Mahāpajāpati Tu-đà-hườn, Công chúa Yasodharā, Hoàng tử Rāhula xuất gia Sa-di, Thái tử Nanda, năm vị hoàng thân Anuruddha, Bhaddhiya, Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta cùng với người thợ hớt tớc Upāli, nhà ảo thuật tài ba Ugasena[4]…

Mùa an cư thứ 5:

Đức Phật đã an cư ba tháng mùa mưa tại ngôi Trùng Các Giảng đường (Kūṭāgārasālā) ở Đại Lâm (Mahāvana) gần kinh thành Xá Vệ (Vesāli). Trong mùa an cư này, Dì mẫu Mahāpajāpatigotamī[5] cùng với 500 Thích nữ đã tự cạo tóc đắp y, đi bộ từ Kapilavatthu đến Vesāli để xin Đức Phật cho nữ giới xuất gia. Ngài đã ban hành 8 trọng pháp (Garudhamma) đến cho Dì mẫu như là sự xuất gia Tỳ khưu Ni của bà. Như vậy, đến mùa an cư này thì hội chúng Tỳ khưu Ni đã xuất hiện, Giáo hội Tỳ khưu Ni đã được thành lập, tứ chúng đã có mặt đầy đủ kể từ đây. Và cũng trong mùa mưa này, Đức Phật đã trở về quê hương tiếp độ Phụ vương đang lâm trọng bệnh, nhà vua đã đắc quả A-la-hán trước khi viên tịch.

Mùa an cư thứ 6:

Đức Phật cùng chúng Tỳ-khưu an cư ba tháng mùa mưa tại Maṅkulapabbata. Ngài đã thị hiện thần thông để thu phục ngoại đạo[6] vào mùa an cư này dưới cội cây Gaṇḍamba ở Sāvatthi.

Mùa an cư thứ 7:

Vào mùa hạ này, Đức Phật đã ngự lên cung trời Tāvatiṃsā để thuyết giảng Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) cho thân mẫu của ngài, là vị thiên tử ở cõi trời Đâu Suất (Tusita) trong suốt 3 tháng mùa mưa (tính theo thời gian cõi nhân loại). Sau khi nghe xong thời pháp, vị thiên tử đắc được Thánh quả Tu-đà-huờn.
Mỗi ngày, Đức Phật dùng thần thông hóa hiện ra một vị Phật nữa để thuyết pháp, còn Ngài đi khất thực tại xứ Bắc Cưu Lưu Châu, sau khi khất thực xong thì Ngài trở về Saṅkassa tóm tắt lại những gì Ngài đã thuyết cho Tôn giả Sāriputta nghe. Rồi sau đó Ngài trở lại cõi trời Tam Thập Tam để tiếp tục thuyết pháp.
Vào ngày mãn hạ, Đức Thế Tôn từ cung trời trở về địa cầu bằng chiếc thang ngọc do Thiên chủ Sakka hóa dựng, bên phải co chiếc thang bằng vàng cho chư thiên và bên trái có chiếc thang bạc cho chư đại phạm thiên. Cổng thành Saṅkassa nơi Phật ngự xuống là một trong số những địa điểm sẽ không bao giờ thay đổi của thế gian này, và tất cả chư Phật đều giáng trần tại đây sau khi thuyết Abhidhamma.

Mùa an cư thứ 8:
Đức Thế Tôn an cư tại Bhesakalāvana gần Suṃsumāragiri, ở đây Ngài gặp ông bà Nakulapitā, cha mẹ của Ngài vào 500 kiếp trước.[7]

Mùa an cư thứ 9:

Đức Phật an cư tại ngôi chùa Ghositārāma ở Kosambi.
Thứ hậu Māgandiyā[8] có mối hận thù với Đức Phật vì Trong chuyến du hành trong xứ Kuru Ngài được Bàlamôn Māgandiya đề nghị gả cho ái nữ Māgandiyā nhưng ngài khước từ “không thể so sánh với con gái của ma vương, Ngài không bao giờ đưa chân dụng tới nàng bởi vì nàng chỉ là một bị chứa đầy 32 thể trược” khi cha mẹ của nàng đưa đến để gả nàng cho Đức Phật. Vì mối hận từ trước, thứ hậu cho mướn côn đồ xỉ vả, mắng chửi Đức Phật khi ngài đi khất thực trong kinh thành. Và sau 7 ngày thì mọi tiếng ồn ào, mắng chửi này đã tự yên lặng.

Mùa an cư thứ 10:

Có hai nhóm Tỳ khưu trong thành Kosambi bất hòa[9] với nhau, Thế Tôn khuyên ngăn không được nên Ngài đi vào rừng Pārileyyaka một mình và trải qua mùa an cư tại đây với sự hộ độ cúng dường của một con voi và một con khỉ.

Mùa an cư thứ 11: 

Đức Phật đã ngự đến ngôi làng Ekanāḷā, trong Dakkhinagiri, một ngôi làng theo Bà-la-môn giáo gần xứ Magadha. Ngài ngự đến đây để thuyết pháp tiếp độ cho ông Bà-la-môn Kasibhāradvāja[10] bằng thời pháp với đề tài “cách làm ruộng của Đức Phật”. Sau đó ông xuất gia trở thành vị Tỳ khưu Phật Giáo và chứng đắc được Thánh quả A-la-hán.

Mùa an cư thứ 12:

Theo lời thỉnh cầu của Bà-la-môn Verañja, Đức Phật cùng với chúng Tỳ khưu an cư mùa mưa tại xứ Verañjā. Lúc bấy giờ, nạn đói xảy ra tại xứ này, Đức Phật và chư Tăng phải dùng thức ăn của ngựa do một người buôn ngựa dâng cúng. Và trong mùa an cư này, Tôn giả Sāriputta bạch hỏi Đức Phật về thọ mạng của Giáo Pháp[11]. Thế Tôn đã giảng cho Tôn giả nghe về thọ mạng của Giáo Pháp trong thời các vị Phật quá khứ. Tôn giả bạch xin Phật ban hành giới luật nhưng Thế Tôn đã từ chối lời thỉnh cầu ấy.

Mùa an cư thứ 13:
Mùa an cư này, Đức Phật ngự tại núi Cāliya. Lúc bấy giờ, Tỳ khưu Meghiya là thị giả hầu cận của Ngài. Một hôm, trên đường đi khất thực trong làng Jantu, Tỳ khưu Meghiya thấy một khu vườn xoài bên bờ sông có khung cảnh hữu tình, khả ái nên muốn đi đến đó để tu tập. Tỳ khưu Meghiya đến bạch xin Đức Phật nhưng Ngài quán thấy duyên lành chưa đến nên Ngài khuyên ngăn 3 lần nhưng Tỳ khưu Meghiya vẫn bỏ đi. 
Tỳ khưu Meghiya quá nóng vội nên lúc độc cư thiền tịnh vẫn không an trú được và quay trở về với Đức Phật. Thế Tôn giảng dạy cho Meghiya[12] về năm pháp để thuần thục tâm giải thoát, là năm pháp diệt trừ tà tư duy, để hỗ trợ cho pháp hành thiền định. Tỳ khư Meghiya vâng lời Thế Tôn và chẳng bao lâu thành tựu được Thánh quả A-la-hán.

Mùa an cư thứ 14:
Mùa an cư này Đức Phật cùng với chư Tăng nhập hạ tại ngôi đại Tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana Mahāvihāra) do ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) kiến tạo gần kinh thành Sāvatthi. Trong mùa an cư này, Sa-di Rāhula tròn 20 tuổi nên được xuất gia Tỳ khưu với Ngài Tôn giả Sāriputta làm thầy tế độ.

Mùa an cư thứ 15:
Đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu an cư tại ngôi chùa Nigrodhārāma, gần kinh thành Kapilavatthu. Ngôi chùa này do đức vua Mahānāma kiến lập để cúng dường và cung thỉnh Đức Phật với Chư Tăng trú ngụ. theo kinh sách ghi lại, Đức Thế Tôn chỉ nhập hạ duy nhất một mùa an cư tại quê hương của mình.
Một sự kiện xảy ra trong mùa an cư này là đức vua Thiện Giác (Suppabuddha)[13] vì hận Đức Phật đã bỏ rơi con gái mình (công chúa Yasodharā) và làm cho con trai của mình (Devadatta) đi xuất gia nên nhà vua đã ngăn cản đức phật khi ngài đi khất thực. Do hành động này, vua đã bị đất rút một cách thê thảm và đau đớn.

Mùa an cư thứ 16:

Đức Phật đã ngự tại Aggaḷāva của xứ Āḷavī và đã tiếp độ được dạ xoa Āḷavaka[14] rất hung ác, nhờ Đức Phật tiếp độ và giáo hóa nên dạ xọa thành tựu được Thánh quả Tu-đà-huờn.

Mùa an cư thứ 17:
Đức Phật trở về Sāvatthi nhưng có trở lại viếng Ālavī vì một nông dân nghèo[15]. Nông dân này đắc quả Dự lưu sau khi nghe Phật thuyết kinh. Năm này Ngài an cư tại Trúc Lâm Tịnh xá (Veḷuvanavihāra) ở thành Rājagaha của xứ Magadha.

Mùa an cư thứ 18-19:
Đức Thế Tôn trở lại Ālavī một lần nữa để hộ độ người con gái của ông thợ dệt[16]. Nàng có nghe Phật thuyết ba năm trước đây về ước vọng thiền về cái chết. Bấy giờ chỉ có mình nàng lưu tâm đến lời khuyên nhủ của Phật, nên khi biết nàng hấp hối, Phật đi 30 lý đến để thuyết kinh cho nàng nghe và an trú nàng trong quả Dự lưu. Năm này Ngài an cư tại Cālikapabbata.
Năm sau Ngài cũng an cư tại Cālikapabbata.

Mùa an cư thứ 20:

Đức Thế Tôn nhập hạ tại tại Trúc Lâm Tịnh xá (Veḷuvanavihāra).
Một sự kiện quan trọng xảy ra trong mùa hạ là sự kiện Tôn giả Ānanda chính thức trở thành vị thị giả hầu cận bên Đức Thế Tôn. Suốt 20 năm, Ngài không có vị thị giả cố định thường túc trực để hầu cận nên vào mùa hạ này Thế Tôn cũng đã lớn tuổi (55 tuổi) nên Ngài muốn có một vị thị giả hầu cận phục vụ. Tôn giả Ānanda[17] trở thành vị Tỳ khưu thị giả của Đức Phật kể từ mùa hạ này trở đi.
Vào năm này, Ngài cũng đã giáo hoá được tướng cướp Aṅgulimāla[18]; Aṅgulimāla đắc quả Alahán và viên tịch một thời gian ngắn sau đó. 

Kể từ hạ thứ 21 đến hạ thứ 44:
Những mùa an cư sau cùng của cuộc đời của Thế Tôn, cho đến nay, chưa có tài liệu biên niên rõ ràng và chi tiết. Theo Chú giải nói rằng trong khoảng thời gian này Đức Thế Tôn an trú mùa mưa thường xuyên tại một trong hai ngôi chùa Jetavana và Pubbārāma.
Sau khi mãn hạ, Đức Phật thường ngự đi thuyết pháp tế độ cho những chúng sinh có duyên lành nên tế độ dù gần, dù xa trong cõi người, hoặc cõi trời dục giới, sắc giới. Khi đến gần mùa mưa, Đức Phật trở lại kinh thành Sāvatthi, an cư nhập hạ tại ngôi chùa Jetavana, hoặc tại ngôi chùa Pubhārama.
Anāthapiṇḍikena kārite jetavanamahāvihāre ekūnavīsativassāni, visākhāya sattavīsatikoṭidhanapariccāgena kārite pubbārāme chabbassānīti dvinnaṃ kulānaṃ guṇamahattataṃ paṭicca sāvatthiṃ nissāya pañcavīsativassāni vassāvāsaṃ vasi.[19]
Ngài trú tại Kỳ Viên suốt mười chín hạ, và sáu hạ tại Pubbārāma, một tịnh xá do bà Visākhā, một nữ cư sĩ lỗi lạc xây cất, trị giá hai trăm bảy chục triệu đồng. Do công đức lớn lao của hai gia đình Anāthapiṇḍika và Visākhā, đức Phật đã an cư gần Sāvatthi trong suốt hai mươi lăm hạ.
Bởi vì, Đức vua Pasenadi Kosala ở kinh thành Sāvatthi, là người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có tâm tôn kính Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng. Đặc biệt, có hai đại thí chủ là ông phú hộ Anāthapiṇḍika và bà đại thí chủ Visākhā, trong nhà của hai thí chủ này hằng ngày luôn có sắp đặt sẵn 500 chỗ ngồi để đón rước chư Đại đức Tỳ khưu Tăng đến khất thực.
Và phần đông dân chúng trong kinh thành Sāvatthi là những người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hoan hỷ trong việc bố thí cúng dường bốn thứ vật dụng đến chư Tỳ khưu Tăng. Do đó, khi Đức Phật an cư nhập hạ tại ngôi chùa Jetavana, hoặc tại ngôi chùa Pubbārāma, thì có số đông chư Đại đức Tỳ khưu Tăng cũng an cư nhập hạ tại một trong hai ngôi chùa này, và các nơi gần kinh thành Sāvatthi, để chư Tỳ khưu có được nhiều điều thuận lợi, nhất là bốn thứ vật dụng, trong suốt mùa an cư nhập hạ.

Mùa an cư thứ 45:
Mùa an cư cuối cùng của Đức Thế Tôn là tại ngôi làng Beluva[20] gần kinh thành Vesāli. Trong mùa hạ này Ngài lâm trọng bệnh nhưng vẫn duy trì mạng quyền để tiếp tục công cuộc hoằng pháp độ sinh. Đức Thế Tôn nhập hạ suốt 3 tháng mùa mưa tại đây rồi tiếp tục du hành về nhiều nơi và cuối cùng là Kusinārā để viên tịch Níp-bàn vào ngày trăng tròn tháng Vesak năm 543 TCN.
Sau mùa an cư năm này, vào ngày trăng tròn tháng 10, Tôn giả Sāriputta đã viên tịch Níp bàn tại quê nhà của Ngài, ở ngôi làng Nālākagāma trong xứ Magadha để tiếp độ mẫu thân của Ngài đắc sơ quả trước khi viên tịch[21]. Sau đó 2 tuần, tức là vào ngày 30 tháng 10, Tôn giả Mahāmoggallāna tịch diệt Níp Bàn tại làng Kaḷasilā trong xứ Magadha[22].
________________
[1] Vin.i.4
[2] Vin.i.15
[3] Vin.i.23
[4] DhA.iv.59
[5] Vin.ii.253
[6] DhA.iii.199
[7] AA.i.217
[8] DhA.i.199
[9] Vin.i.337; DhA.i.44
[10] S.i.172
[11] Vin.iii.1
[12] A.iv.354
[13] DhA.iii.44
[14] S.i.218
[15] DhA.iii.262
[16] DhA.iii.170
[17] Jā.456
[18] M.I.86
[19] DhA.i.3
[20] DhA.iii.269
[21] DA. ii. 549
[22] SA. iii. 181; DhA. i. 73

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

MÙA HẠ THỨ 45

45 năm hoằng pháp vì lợi ích của chúng sanh, vì lợi ích cho chư thiên và nhân loại
Mùa an cư thứ 45, mùa an cư cuối cùng trong sự nghiệp hoằng pháp độ sinh của đức Như Lai, Ngài cùng chúng Tỳ-khưu đã trú ngụ tại ngôi làng nhỏ Beḷuvagāma, gần kinh thành Vesāli.Và Ngài cho phép các Tỳ-khưu an cư 3 tháng mùa mưa xung quanh làng.
Trong mùa an cư nhập hạ này, Đức Phật lâm bệnh trầm trọng, tưởng chừng như sắp tịch diệt Níp Bàn, nhưng Ngài suy nghĩ rằng: "Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống".[1] Do đó, Ngài cố nhẫn nại chịu đựng thọ khổ, rồi nhập Arahán Quả. Nhờ vậy, bệnh tình của Ngài được thuyên giảm.
Vào thời gian Đức Phật lâm trọng bệnh, thiên chủ Sakka đã đến chăm sóc, hầu cận Đức Thế Tôn như là một người con hiếu thảo đối với vị cha già khả kính.[2]
Đức trời Ðế-thích rời bỏ thân hình cao lớn đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và dùng hai tay xoa bóp chân Phật, Phật hỏi:  
- Ai đấy?
- Bạch Thế Tôn, con Ðế Thích.
- Vì sao ông đến đây?
- Con săn sóc Thế Tôn trong cơn đau.
- Này Ðế Thích! Ðối với chư thiên, mùi của phàm nhân hôi hám khó ngửi, dù cách xa một trăm dặm. Ông hãy rời khỏi nơi đây vì Ta đã có các Tỳ-kheo săn sóc.
- Bạch Thế Tôn, con nghe được hương thơm đức hạnh của Ngài lan xa từ tám muôn bốn ngàn dặm. Con đến đây chỉ là muốn được săn sóc Ngài trong cơn đau.
Ðế Thích không cho ai mó tay đến thùng phân của đức Phật, chính tự mình đội nó lên đầu, và không chút tỏ vẻ nhờm gớm, như thể vua trời đang đội một bình đầy hương thơm. Cứ như vậy Ðế Thích săn sóc Thế Tôn, và chỉ rời khỏi chỗ khi Phật đã bớt đau.
Các thầy Tỳ-kheo bàn tán:
- Ôi! Thật lớn lao làm sao là lòng tôn kính của Ðế Thích đối với Thế Tôn! Thử nghĩ Ðế Thích đã rời cung trời lộng lẫy, để đến săn sóc Thế Tôn trong cơn đau như thế! Thử nghĩ, ông ấy đã đội thùng phân của Thế Tôn trên đầu như là đội bình hương, không tỏ vẻ nhờm gớm dù chỉ một nét nhích môi!.
Nghe thế Phật dạy:
- Các ông nói gì? Không có gì lạ khi Ðế Thích, vua chư thiên đã tận tâm chăm sóc Ta. Bởi vì nhờ Ta, trời Ðế Thích này đã cởi bỏ lốt thân Ðế Thích già nua, chứng được quả Tu-đà-hoàn và nhận một thân Ðế Thích mới, trẻ trung. Ở thân trước, ông ấy đến viếng Ta với sự sợ hãi vì mình sắp chết, được dự báo bởi nhạc thần Càn-thát-bà. Khi ấy Ta ngồi trong động Indasala giữa chư thiên, Ta trấn an ông ta bằng bài kệ:
Hãy hỏi, Vasava
Muốn gì cứ nói ra
Ta sẵn sàng giải đáp
Những gì ngươi hỏi ta.  
Sau đó, Ta thuyết pháp cho Ðế Thích nghe. Cuối cùng, có một trăm bốn mươi triệu thiên thần được Pháp nhãn. Ðế Thích chứng quả Tu-đà-hoàn ngay sau đó và đổi thân làm Ðế Thích hiện nay. Vì Ta đã cứu độ ông ấy nên không có gì lạ khi ông ấy bày tỏ lòng tôn kính Ta. Này các Tỳ-kheo! Thật là hạnh phúc khi được sống gần gũi và chăm nom chư Phật, còn sống với người ngu chỉ đem lại đau khổ.
Phật nói kệ:
Lành thay, thấy thánh nhân,
Sống chung thường an lạc,
Không thấy những người ngu,
Thường thường được an lạc.
Sống chung với người ngu,
Lâu dài bị lo buồn,
Khổ thay gần người ngu,
Như thường sống kẻ thù.
Vui thay, gần người trí
Như chung sống bà con.
Do vậy:
Bậc hiền sĩ, trí tuệ,
Bậc nghe nhiều, trì giới,
Bậc tự chế, thánh nhân,
Hãy gần gũi thân cận,
Thiện nhân, trí giả ấy,
Như trăng theo đường sao.[3]
Rồi Đức Thế Tôn lành bệnh, Ngài ngự ra khỏi tịnh xá, ngồi dưới tán cây, Tôn giả Ānanda đã đến đảnh lễ và bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
- Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ānanda, những ai nghĩ rằng: "Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai" thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta" thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ānanda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ānanda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ānanda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái. Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác…
Đức Thế Tôn đã an cư suốt 3 tháng mùa mưa, và đây là mùa an cư cuối cùng của ngài. Vào cuối mùa an cư, Đức Phật tiếp tục du hành nhiều nơi và điểm cuối cùng trong cuộc hành trình của Ngài là Kusinārā để viên tịch Níp-bàn vào ngày trăng tròn tháng Vesak.
Cũng vào năm này, vào ngày trăng tròn tháng 10, Tôn giả Sāriputta đã viên tịch Níp bàn tại quê nhà của Ngài, ở ngôi làng Nālākagāma trong xứ Magadha để tiếp độ mẫu thân của Ngài đắc sơ quả trước khi viên tịch. Sau đó 2 tuần, tức là vào ngày 30 tháng 10, Tôn giả Mahāmoggallāna tịch diệt Níp Bàn tại làng Kaḷasilā trong xứ Magadha. Như vậy, chỉ trong tháng 10 năm ấy, hai vị thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn đã viên tịch Níp bàn.




[1] DN.16 (Mahāparinibbāna sutta)
[2]DhpA.iii.269
[3]Dhp.206-207-208

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

MÙA HẠ THỨ 21 – 44





Kể từ hạ thứ 21 đến hạ thứ 44, Đức Phật an cư nhập hạ một trong hai ngôi chùa. Khi thì tại ngôi chùa Jetavana, khi thì tại ngôi chùa Pubbārama gần kinh thành Sāvatthi.
Sau khi mãn hạ, Đức Phật thường ngự đi thuyết pháp tế độ cho những chúng sinh có duyên lành nên tế độ dù gần, dù xa trong cõi người, hoặc cõi trời dục giới, sắc giới. Khi đến gần mùa mưa, Đức Phật trở lại kinh thành Sāvatthi, an cư nhập hạ tại ngôi chùa Jetavana, hoặc tại ngôi chùa Pubhārama.
Anāthapiṇḍikena kārite jetavanamahāvihāre ekūnavīsativassāni, visākhāya sattavīsatikoṭidhanapariccāgena kārite pubbārāme chabbassānīti dvinnaṃ kulānaṃ guṇamahattataṃ paṭicca sāvatthiṃ nissāya pañcavīsativassāni vassāvāsaṃ vasi.[1]
Ngài trú tại  Kỳ Viên suốt mười chín hạ, và sáu hạ tại Pubbārāma, một tịnh xá do bà Visākhā, một nữ cư sĩ lỗi lạc xây cất, trị giá hai trăm bảy chục triệu đồng. Do công đức lớn lao của hai gia đình Anāthapiṇḍika và Visākhā, đức Phật đã an cư gần Sāvatthi trong suốt hai mươi lăm hạ
Bởi vì, Đức vua Pasenadi Kosala ở kinh thành Sāvatthi, là người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có tâm tôn kính Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng. Đặc biệt, có hai đại thí chủ là ông phú hộ Anāthapiṇḍika và bà đại thí chủ Visākhā, trong nhà của hai thí chủ này hằng ngày luôn có sắp đặt sẵn 500 chỗ ngồi để đón rước chư Đại đức Tỳ khưu Tăng đến khất thực.
Và phần đông dân chúng trong kinh thành Sāvatthi là những người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hoan hỷ trong việc bố thí cúng dường bốn thứ vật dụng đến chư Tỳ khưu Tăng. Do đó, khi Đức Phật an cư nhập hạ tại ngôi chùa Jetavana, hoặc tại ngôi chùa Pubbārāma, thì có số đông chư Đại đức Tỳ khưu Tăng cũng an cư nhập hạ tại một trong hai ngôi chùa này, và các nơi gần kinh thành Sāvatthi, để chư Tỳ khưu có được nhiều điều thuận lợi, nhất là bốn thứ vật dụng, trong suốt mùa an cư nhập hạ. Cho nên, việc tiến hành thiền định, tiến hành thiền tuệ của chư Tỳ khưu được thuận lợi và dễ dàng phát triển.





[1]DhpA.i.3