Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

TÌNH NHI NỮ


@ Một cô gái hỏi một thầy tu:
Thầy ơi tu đạo để làm chi?
Dưa muối, tương rau có ích gì?
Đời đẹp hoa tươi sao lại chán?
Thôi về xây mộng với em đi.

@ Thầy tu đáp :
Xây mộng với em để làm chi?
Tử tử, thê thê có ích gì?
Đời khổ hoa tàn tôi đã chán
Con đường Phật quốc quyết tôi đi.

Giải điều trần cấu nước dương chi
Ảo hóa trần gian có ích gì
Thinh sắc phù hoa tuồng giả tạo
Khuyên người mau tỉnh giấc mơ đi.

Đạo đời hai ngã luyến lưu chi
Thôi chớ hoài mong luyến tiếc gì
Oan trái đã thông duyên chẳng có
Đường hoa người bước, đạo tôi đi.

Thầy đây học đạo để thoát ly
Dưa muối, tương rau dưỡng tánh bi
Tuổi trẻ đời trai đâu gì chán
Thôi đừng níu kéo để thầy đi.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

CÒN GÌ THẢM HƠN by toai khanh



Rõ ràng một người trên 18 tuổi không thể ngồi yên chờ thiên hạ bón thức ăn vào miệng mình. Ai cũng phải đi cày để kiếm sống. Nhưng không gì thảm hơn cảnh suốt đời chỉ biết chạy quanh một vòng tròn: Đi làm để sống và sống để đi làm, một ngày lăn đùng ra lạnh ngắt, cứng đơ, vô duyên như một vở kịch dở ẹt !

Một người sống giữa thiên hạ phải có chút hình thức tươm tất, vì ít nhất hai lý do là tự trọng đối với mình và tôn trọng người khác. Nhưng không gì thảm bằng việc suốt đời cứ bận tâm vì vẻ ngoài, sợ bị chê xấu, thích được khen đẹp. Xin vài lần nhìn quanh mình xem, mình ăn mặc trang điểm ra sao thì thiên hạ có ai thèm nhìn đâu, và sau những cái nhìn thoáng qua của họ, có ai về rồi vẫn còn nghĩ đến mình. Trừ phi mình quá sức đặc dị mà thôi. Tin tôi đi !

Làm gì cũng phải có thầy và bạn. Trong chuyện tu học cũng vậy. Nhưng không gì thảm bằng cảnh một người suốt đời nhắm mắt đi theo một pháp môn hành trì mà chính mình chỉ hiểu biết mơ hồ, trong khi lý do của sự đáng tiếc đó chỉ đơn giản là niềm tin hay tình riêng với ai đó. Đời ta rẻ đến vậy hay sao ? Trăm năm đâu phải tấm giẻ rách mà coi thường quá vậy !

Xin làm ơn nhớ giùm chuyện này: Nhẹ dạ, lười suy nghĩ, cuồng tín đều là mẹ ruột của các tín ngưỡng mù quáng, những hệ thống chính trị ngu xuẩn tàn độc. Chính những người dân thiếu suy nghĩ đã dọn chỗ cho bạo chúa, độc tài về đày đọa họ. Hôm nay tôi còn ngờ rằng chính cách nghĩ của mấy bà già trầu mù chữ đã là một góp sức quan trọng cho số phận Việt Nam xưa giờ.

Phật pháp nói chung, hay nói riêng giáo lý A Tỳ Đàm chẳng hạn, hoàn toàn có thể dung nạp được mọi trình độ. Vì vậy không gì thảm bằng việc học đạo theo cách thuộc lòng trả bài rồi đem giới thiệu cho người khác. Đối với một người dạy đạo thiếu Phật duyên và Phật chất thì bằng cấp học vị hay uy tín đối với quần chúng đôi khi chỉ là khối thuốc nổ tăng mức sát thương mà thôi. 

Phật pháp qua cách hiểu nông nổi rất dễ bị xem là ngô nghê buồn cười. Thầy trò khi đó giống hệt đám trẻ lấy ngọc quý đem chơi đánh đáo hay trò ô quan. Tinh hoa tuệ giác của một đức Phật đâu phải tầm thường đến thế. Nghĩ mà đau lòng lắm vậy !

Thiền Quán hay Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát. Toàn bộ kinh điển chỉ có một lý tưởng duy nhất là xác định nhận thức này.

Phật giáo Miến Điện tô đậm nhận thức đó bằng việc dạy và tu Tứ Niệm Xứ. Pháp môn này không phải là đặc sản của riêng họ như cách nói của một phóng viên Tây Phương: Các xứ khác có máy móc hay nông lâm thuỷ khoáng sản để xuất cảng, Miến Điện có thêm pháp môn Tứ Niệm Xứ để đưa ra thế giới bên ngoài.

Người đến Miến Điện tu thiền Quán không giống như kẻ đến Ấn Độ để học Yoga hay qua Tàu học khí công. Ta sang Myanmar để tìm một bối cảnh thích hợp, như ra bờ biển để chạy bộ vậy. Và không gì thảm hơn một người qua đây chỉ vì phong trào: Đi cho sang, cho thỏa tò mò, cho giống người ta. 

Ở đâu cũng vậy, tu Quán là để thấy mình là gì và đang ra sao. Đủ duyên thì thành thánh, kém duyên một chút thì cũng được an lạc hiện tiền. Ta khổ vì nhiều hiểu lầm quá, về mình và về người. Tu thiền là để hiểu đúng hơn, về ta và về đời.

Chuyện đã hết đâu. Giáo lý chưa thông, ngôn ngữ bất đồng, người ngoại quốc đến thiền viện Miến Điện phải lệ thuộc người phiên dịch để tương thông với thiền sư. May gặp người dịch có trình độ Phật học thì OK, xui mà gặp tay ngang thì cứ như muốn mua mít chín mà nhờ cậy người nghẹt mũi. Vậy mà nghe đâu có khối người sau một hai khóa tu thiền Quán ngắn hạn ở Miến Điện trở về đã mặc nhiên trở thành những hành giả có cầu chứng ( marque deposee/ trade mark). Thiên hạ thích thì cứ, nhưng bản thân thiền sinh có lẽ nên quên đi. Nếu không thì còn gì thảm hơn !

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

THIỀN SƯ HOÀN TỤC by Toại Khanh


(tiếc nhớ thầy G. Mitsuo)

Ta ngồi dưới phố trông lên núi
đã nửa đời qua, mất lối về
lãng bạt mấy mùa quên cả tuổi
gót mòn bỗng ngại nẻo sơn khê

Theo em xuôi ngược đời mộng mị
thảng hoặc nhiều khuya cũng giật mình
đã mất đâu rồi gùi kinh lá
để cứ đi về với vô minh

Mẩu nến góc phòng đầy những bụi
đâu đủ kéo dài những đêm sâu
khuya không thiền định, ra cửa sổ
phóng mắt qua rào, ngửi hương ngâu

tóc ai dài quá, như sợi khói
ta nhìn biết quán niệm chi đây
mắt biếc làm sao mà uế trược
thương tấm lưng ong, một vóc gầy !

Nguyện lớn ngày nào, giờ gửi Phật
tấm áo năm xưa...trả lại thầy
khép cửa xoay lưng, rời thiền thất
nghĩa đệ tình huynh thoáng mây bay

Ngày sau ai có về núi cũ
tình cờ lạc bước ghé ngang đây
nhớ để lại giùm ta góc nến
....nếu chẳng đời này cũng kiếp mai !

Mandalay, July/6/2013

Source: Facebook Toại Khanh

TRÁI MÍT XỨ NGƯỜI by Toai Khanh





Hôm rồi từ Pyin Oo Lwin về Mandalay, trên đường thấy có bán mít nhiều quá, bèn động lòng trần ghé mua một trái để gọi là không ngược đãi bản thân. 
Mười mấy năm xa xứ, gần trăm phần trăm thức ăn có xuất xứ Á Châu mà tôi ăn được đều là hàng đông lạnh, chán như yêu nhầm dân đồng tính. Nghĩa là thấy vậy mà không phải vậy, chẳng đi đến đâu.

Trái mít tôi mua không tệ, chỉ bị thối một góc nhỏ. Trái mít không to lắm, tôi tiếc của lấy dao khoét gọn chỗ hư rồi coi như không có gì xảy ra. Ăn hết trái mít, cầm lên miếng hư vừa cắt bỏ để dọn dẹp, tôi bỗng ngộ ra một điều mà lẽ ra phải thấy ở thiền viện mới đúng.

Thì ra cái gọi mùi thơm của trái chín chỉ đơn giản là mùi tử khí của nó ở giai đoạn bắt đầu. Thêm chút thời gian, sẽ ngửi không vô nữa. Từ trái cây, tôi bỗng dưng nghĩ đến con người.

Danh tiếng sự nghiệp chính là tử khí của họ. Bởi hầu như ai lên được đến đỉnh điểm danh lợi kha khá một chút thì tuổi đời khó mà dưới năm bó. Cứ cho họ thưởng thức thả dàn cái mình có lúc năm mươi tuổi, thì đến tuổi 70 có ông cụ bà lão nào còn hơi sức nữa đâu. Đi đứng, ăn uống, âm thanh, hình ảnh gì cũng lạt thếch.

Ngược dòng thời gian một chút, một em bé thơ ngây bỗng dưng biết buồn ngẩn ngơ, biết ngồi một mình tư lự, biết tự động cư xử phải phép với người chung quanh, nghĩa là em đang lớn, đang trưởng thành để giã biệt tuổi mộng, giai đoạn đẹp nhất trong một đời người. Tôi muốn gọi sự dậy thì đó của em là một thứ tử khí. Bởi em đang chuẩn bị làm cha mẹ, chuẩn bị dấn thân để từng ngày trong hai mươi năm tiếp theo bước vào tuổi trung niên. Nghe buồn lắm phải không ? Nhưng chẳng lẽ em muốn mình cứ mãi hoài là một em bé, một cô cậu hồn nhiên và không bao giờ có thêm một thay đổi nào khác ? Không, em phải đi tới, vạn vật phải chuyển động để tồn tại. Dù đó là những bước chân đi về cõi chết.

Nhan sắc chín muồi của một thiếu nữ, sự chững chạc của một thanh niên, rồi thì giai đoạn hồi xuân của tuổi trung niên, sự già dặn của một người đứng tuổi, theo tôi đều là tử khí. Nói trừu tượng một chút thì kiến thức, kinh nghiệm, và mọi thứ ta có được đều là tử khí. Chúng càng nhiều thì tử khí càng mạnh, càng nồng. Hồi bé không có, bây giờ lại có, rõ ràng chúng là biển báo cho biết ta đang sắp đến chỗ cuối đường của hành trình dâu bể.

Nhớ lại mấy hôm đi tìm chỗ trọ học ở các chùa Miến Điện, nhìn lên di ảnh của các vị sayadaw đã mất được treo trên tường, tôi từng ngậm ngùi một nỗi riêng. Hồi nào còn trẻ, chắc chắn các vị cũng từng phải bôn ba trầy trật như tôi bây giờ. Đến khi thỏa được nguyện lớn, dự hàng long tượng tăng- già, thậm chí ngồi chiếu trên của bậc quần long chi thủ, thì tóc bạc da mồi, buông hết mà đi. Nếu nguyện xưa chưa dứt, biết đâu hôm nay các vị lại tiếp tục là những tiểu sa- di gầy gò thiếu ăn ở một chùa quê hẻo lánh nào đó để làm lại từ đầu mọi thứ.

Đại khái, trái ngã màu nhìn ngon mắt hơn và bắt đầu thơm thì coi như đang chuẩn bị về đất. Người có được chút gì để gọi là sự nghiệp thi coi như đang sắp xuôi tay. Ai lại không hiểu được chuyện này, nhưng mỗi người một cách nghĩ. Có kẻ không đành lòng bỏ lại thứ đang có, có kẻ ngán cảnh làm lại từ đầu, có người thì tới đâu hay tới đó.

Viết đến chỗ này, tôi chợt nhớ đến danh từ Hoa ngữ được dùng để gọi trái mít là Ba La Mật. Cái tên gọi đó có vẻ như được vay mượn từ một ngôn ngữ khác, nhưng thú vị ở chỗ nghe giống như một thuật ngữ Phật học. Ở tuổi này, tôi bỗng một ngày ngộ ra được một vấn đề tu học thú vị từ trái mít, trái mít xứ người, coi như chút Ba La Mật của một ngày lưu lạc ven trời.

VĂN MINH SÀ-RÔNG by Toai Khanh




Toi đã mặc y Nam Tông từ bé, giờ già rồi, sau chút phong trần mới hay lá y của Phật ban hành là đồ quý. Người Hi Lạp thời Socrates hay người La Mã thời J.Cesar đều có kiểu trang phục giống hệt y áo của PG Theravada. Các kiểu quần có ống, áo có tay thấy vậy mà không đắc dụng bằng kiểu y phục dùng tấm vải lớn trùm trên quấn dưới.

Cái quần hay chiếc áo chỉ có mỗi tác dụng che thân. Trong khi đó tấm sà-rông của các dân tộc Miên, Miến, Thái, Lào, Ấn....thì ngoài tác dụng y phục còn có thể dùng làm khăn tắm, miếng trải giường, trải chỗ ngồi, khăn choàng lúc trời lạnh (nếu có hơn hai cái). 

Đó là chưa kể một điều đặc biệt nữa, phụ nữ vận sà-rông nhìn nữ tính hơn, gợi cảm hơn, xấu cũng thành dễ nhìn, thêm được vài điểm. Và nếu cắc cớ bị mất sạch y phục, người mặc sà-rông chỉ việc vơ vội một tấm vải là đâu sẽ vào đấy thôi. 

Thậm chí kẻ mặc sà-rông có thể không cần cúng tiền cho tiệm may như kẻ mặc áo quần. Hay thiệt. Chợt nhớ chiếc khăn rằn vắt vai của các cụ ở miền tây Nam Bộ cũng đa dụng như vậy: Làm tay nải, khăn quấn đầu, khăn tắm, sà-rông, hay lúc ngang nhà có chó dữ cũng yên tâm. 

Nhìn người Miến hôm nay, tôi thầm mong một điều: Đừng bao giờ cái quần hiện đại thế chỗ chiếc sà-rông truyền thống, uổng lắm, buồn lắm.
Tổng chi, nếu có ai hỏi tôi sao nói quá nhiều về cái sa-rông như vậy, tôi sẽ thưa rằng tấm sà-rông chứa cả một trời triết học và đạo học trong đó chứ chẳng chơi.

Kiếp người ngắn ngủi, nên thời gian, tiền bạc và công sức phải được tận dụng cho những điều thật sự cần thiết. Mặc sà-rông, ta tiết kiệm được cả ba thứ đó. 

Và một tấm sà-rông đã cũ xì vẫn dùng được nhiều việc hơn là áo quần cũ. Một món đồ giản dị, dùng được nhiều việc, rẻ tiền, vả lại thêm nét đẹp thì tiếc gì mà không coi trọng nó !


ĐÔI DÒNG



Người ta kính bóng huỳnh y
vì là y Bụt - tấm y giới mầu
tấm y - ruộng phước vô biên
nhờ công tu tập, dồi trau đạo hiền

Huỳnh y, màu đất, màu tro
tượng trưng cho hạnh từ hòa uyên thâm
cũng là y báu - hiện tồn Phật tâm

Người tu khoác tấm y vàng
cũng là nhắc nhở, đạo mầu phải chuyên
không ỷ y, nghĩ sai chuyện cung kính
nơi tín tâm đạo hữu dành cho
rồi sanh kiêu mạn, phá tan hạnh lành
lời dạy ấy đành rành sau trước
Bụt đã trao, dặn dò kỹ lưỡng
phải xem thân như cỏ rác mà tu
người ta kính một, mình nên kính mười
tuy hiện tướng khác nhau đời-đạo
nhưng trong tâm hạt giống như nhau
cũng đồng tâm Bụt - tánh thiên sẽ thành

Kính y, kính cả người trùm tấm y
bởi vì hạnh nguyện thoát ly
từ thân, cát ái rộng đường vô sanh
giữ gìn giới luật, oai nghi vững vàng

Người tu đáng kính nhờ tu
sửa dần ba nghiệp sớm về tịnh tâm
cũng từ chỗ đó, đạo vàng xiển dương...
(L.Đ.L)
--------------
P/s: Kính tấm y vàng| Nơi tòa soạn báo Giác Ngộ, Saigon, 5.7.2013| Nhân xem lại tấm hình đẹp của anh Tourane Trần và buổi ngồi nói chuyện với chị Hiền trưa nay|

Source: Facebook Lưu Đình Long

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

BẠN HỮU



Một thời Thế Tôn trú ở núi Gijjhakùta, dạy các Tỷ kheo:
Thành tựu bảy chi phần, này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo cần phải thân cận như một người bạn. Thế nào là bảy?
  • Cho những gì khó cho,
  • làm những gì khó làm,
  • nhẫn những gì khó nhẫn,
  • nói lên những gì bí mật của mình,
  • che giấu bí mật của người khác,
  • không từ bỏ khi gặp bất hạnh,
  • không có khinh rẻ khi tài sản khánh tận.
Thành tựu bảy chi phần này, này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo cần phải thân cận như một người bạn.
Bạn cho điều khó cho
Làm những điều khó làm
Kham nhẫn những lời nói
Thật khó lòng kham nhẫn
Nói lên bí mật mình
Che giấu bí mật người
Bất hạnh, không từ bỏ
Khánh tận, không chê khinh
Trong những trường hợp trên
Tìm được người như vậy
Với ai cần bạn hữu
Hãy gần bạn như vậy.

 (ĐTKVN, Tăng Chi Bô III, chương 7, phẩm Chư thiên, phần Bạn hữu [1], 
VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.322)

 LỜI BÀN:

Trong cuộc sống, mỗi người đều có quen biết nhiều, giao hảo rộng rãi nhưng tìm ra bạn hiền để tâm giao quả không mấy dễ dàng. Gặp một người tốt hiểu mình đã khó, chia sẻ những vướng mắc với mình về các phương diện trong cuộc sống lại càng khó khăn hơn. Người ta thường nói vui, ở đời này “Thạch Sanh thì ít mà Lý Thông lại nhiều”cũng vì lẽ ấy.

Có không ít người lâm vào khánh kiệt, vương phải nợ nần, gia đình tan nát cũng vì tin bạn. Cho nên, bạn bè có nhiều hạng, khi chưa thực sự hiểu nhiều về bạn thì cũng nên thận trọng, chớ vội sống hết mình. Tuy vậy, có rất nhiều người thành công nhờ sự động viên, giúp đỡ từ bạn bè. Gặp được bạn tốt là một phúc duyên quý báu, cần phải trân quý và gìn giữ tình bạn cao cả ấy.

Theo kinh nghiệm của Thế Tôn, bạn tốt là người biết chia sẻ, luôn sẵn sàng giúp đỡ, biết nhẫn nhịn, nói năng từ hòa, sống trải lòng ra với bạn bè, thận trọng khi nói về người khác, không bỏ rơi bạn khi gặp hiểm nguy, không khinh chê bạn khi làm ăn thất bại… Những ai hội đủ các phẩm tính ấy thì chắc chắn họ là người tốt, cần phải gần gũi và kết thân lâu dài.

Thân thiết với bạn cũng giống như đi trong sương sớm, lâu dần chắc chắn sẽ bị ướt áo. Ảnh hưởng của bạn bè tác động lên cuộc sống của chúng ta rất nhiều. Vì vậy, phải chọn bạn mà chơi, tìm bạn tốt để cùng nương nhau học tập, làm việc, tu dưỡng thân tâm trở thành người tốt, có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

 QUẢNG TÁNH