a) Nguyên nhân:
Do sự bất đồng 10 điều giới luật giữa nhóm Tỳ khưu Vajjiputta và Ngài Yassakālaṇḍaputta.
Nhóm Tỳ khưu ở Vesāli hành trì 10 điều học[1] phi pháp quá lâu nên dân làng xứ Vajji cũng đã quen với nếp sống của chư vị ở đây. Thường xuyên họ đem vàng bạc châu báu cúng dường cho chư vị và họ suy nghĩ đây là sự cúng dường đúng pháp và giới luật. Không may, một hôm nọ Ngài Yassa, một vị Thánh Tăng, từ Kosambī đi đến Vesāli, tình cờ chứng kiến cảnh chư Tỳ khưu nhóm Vajjiputta tự do nhận vàng bạc từ sự cúng dường của chư thiện nam tín nữ. Ngài khiển trách thiện tín và khuyên chư tăng không nên thọ dụng vàng bạc như vậy, điều đó sẽ không đúng với luật pháp của Ðức Phật, nhưng họ không nghe lời dạy của Ngài Yassa. Sau khi thọ dụng vàng bạc xong, họ phân chia với nhau theo hạ lạp, và lẽ cố nhiên họ cũng đem đến cúng dường Ngài Yassa một phần, nhưng Ngài không nhận mà còn khiển trách việc làm của các vị một lần nữa.
Nhóm Tỳ khưu Vajjiputta thấy thái độ của Ngài Yassa làm như vậy quá đáng nên họp chư tăng lại tuyên ngôn xử phạt Ngài Yassa theo Patisāranīyakamma, nghĩa là bắt Ngài Yassa phải đi xin lỗi việc làm của Ngài xúc phạm đến niềm tin của cư sĩ; và lúc Ngài đi xin lỗi phải có Tỳ khưu đại diện của phái họ đi theo để làm chứng. Trước áp lực đa số hơn thiểu số, nên Ngài đành phải đi xin lỗi từng nhà. Tuy nhiên Ngài vừa xin lỗi vừa giải thích giới luật của Chư Tăng cho các cư sĩ hiểu. Ngài xác định với họ rằng việc làm của nhóm Tỳ khưu Vajjiputta là hoàn toàn không đúng với tinh thần giới luật của Ðức Phật. Ngài lập lại câu Phật ngôn cho các cư sĩ nghe:
Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi những vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Bốn vật ấy là gì?
Này các tỳ khưu, mây là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, sương mù là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, khói bụi là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, Rāhu chúa loài Asura (hiện tượng nguyệt và nhật thực) là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi những vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, cũng tương tợ như vậy đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi những điều làm ô nhiễm này, các sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Bốn điều ấy là gì?
Này các tỳ khưu, có những sa-môn và Bà-la-môn uống rượu, uống men say, không chừa bỏ việc uống rượu và men say. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ nhất đối với sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi điều làm ô nhiễm này, các sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những sa-môn và Bà-la-môn thực hiện việc đôi lứa, không chừa bỏ việc đôi lứa. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ hai đối với sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi điều làm ô nhiễm này, các sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những sa-môn và Bà-la-môn thích thú vàng bạc, không chừa bỏ việc thọ lãnh vàng bạc. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ ba đối với sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi điều làm ô nhiễm này, các sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những sa-môn và Bà-la-môn chấp nhận cuộc sống bằng sự nuôi mạng không chân chánh, không chừa bỏ sự nuôi mạng không chân chánh. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ tư đối với sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi điều làm ô nhiễm này, các sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi những điều làm ô nhiễm này, các sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi
Nhóm cư sĩ hoan hỷ với lời giảng dạy của Ngài Yassa, họ xin lỗi việc làm của mình, và nhận ngài Yassa làm thầy để học hỏi và lễ bái cúng dường. Tuy nhiên, vị Tỳ kheo tháp tùng đi theo Ngài Yassa đem chuyện đó nói lại cho nhóm Tỳ khưu Vajjiputta. Các vị nghe thế quyết định lấy số đông tuyên ngôn xử phạt Ngài Yassa một lần nữa theo cách Ukkhepanīyakamma, nghĩa là cô lập mọi sinh hoạt của Ngài. Sau đó, tất cả các vị đó cùng nhau kéo đến nơi cư ngụ của Ngài. Nhưng qua thần thông của một vị A La Hán nên Ngài đã đi tự thuở nào rồi.
Trên đường đi Ngài suy tư, nếu như ta làm ngơ chuyện này thì giáo pháp của bậc đạo sư sẽ bị mai một và số vị ác Tỳ khưu sẽ gia tăng. Cho nên, Ngài không màng gian lao đi vào thành Pātheyyaka, Avanti, và Dakkhiṇāpatha để thông báo cho Chư Tăng biết những chuyện phi pháp luật của nhóm Tỳ khưu ở thành Vesāli với ý dụng là để giải quyết. Sau đó nữa, Ngài vân du lên núi Ahogaṅga để bạch chuyện đó cho Trưởng lão Sambhūtasāṇavāsī, ngài Trưởng lão này hoàn toàn nhất trí với Ngài Yassa là hành vi của nhóm Tỳ khưu ở Vesāli làm như vậy là sai pháp luật.
Sau đó, 60 vị A La Hán ở thành Pātheyyaka và 80 vị ở thành Avanti và Dakkhiṇāpatha cùng nhau họp ở núi Ahogaṅga, với Ngài Yassa và Trưởng lão Sambhūtasāṇavāsī. Chư vị đều nhất trí với nhau rằng việc này nên thỉnh Ngài Revata, một bậc thánh tứ quả làu thông Phật ngôn để làm chủ tọa giải quyết chuyện lộn xộn ở thành Vesāli. Ban đầu Ngài Revata không đồng ý, nhưng sau đó Ngài đồng ý. Sở dĩ Ngài đồng ý là vì Trưởng lão Sambhūtasāṇavāsī trình bày cho Ngài biết về 10 điều sai trái của các vị Tỳ khưu ở thành Vesāli, yêu cầu Ngài giải quyết chuyện này, và sau hết là kết tập Phật ngôn như các vị tiền bối đã làm.
b) Niên đại, địa điểm, vị chủ tọa và người bảo trợ
Một trăm năm sau khi Ðức Thế Tôn viên tịch, nhóm Tỳ khưu ở thành Vesāli không duy trì 10 điều học do Ðức Phật ban hành, nên các vị Thánh Tăng tuyệt đối cấm các vị Tỳ Khưu không được hành động nữa và đem chuyện này xử trước đại chúng tăng.
Sự việc này xảy ra ở thành Vesāli trong chùa Vālikārāma, do đó, Chư Thánh hiền Tăng cũng chọn địa điểm này để giải quyết chuyện lộn xộn về giới luật và đồng thời cũng chọn ngôi chùa này để kết tập Tam Tạng lần thứ hai.
Người chủ trương đầu tiên công việc này là Ngài Yassa, tuy nhiên người chủ tọa để giải quyết nhóm Tỳ khưu Vajjiputta thuộc phái Purāṇa không hành trì 10 điều học là Ngài Revata, và Ngài cũng là vị chủ tọa cuộc kết tập Tam Tạng lần thứ nhì.
Tỳ khưu Vajjiputta có lần đến yêu cầu Ngài Revata che chở việc làm của mình, nhưng bị Ngài khiển trách. Cho nên các vị theo phe Vajjiputta cùng vào hoàng cung yết kiến nhà vua Kākāsoka và bạch dối với nhà vua rằng khi họ trông coi tịnh xá thì có nhóm Tỳ khưu khách đến có ý định chiếm chùa, Vua không hiểu đầu đuôi câu chuyện nên ra lệnh cấm các vị Thánh Tăng không được vào chùa Vālikārāma. Đêm đó, Vua nằm mơ thấy quỷ sứ dưới địa ngục bắt Ngài bỏ vào chảo đồng. Lúc Vua tỉnh dậy thì lo âu và sợ hãi, và sáng hôm sau em gái Vua là vị Thánh Ni Nandā vào gặp Vua và giải thích đâu là đúng, đâu là sai cho Vua nghe. Thánh Ni Nandā đề nghị nhà vua nên ủng hộ Chư Thánh Tăng để chấn hưng Phật giáo, và Vua đồng ý. Vì vậy, người bảo trợ kết tập kinh điển lần thứ hai tại Vesāli là Ðức vua Kākāsoka.
c) Phương pháp kết tập
Trước khi chính thức kết tập kinh điển, Ngài Revata tuyên ngôn bầu một ban giám luật gồm có:
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi bất tận được sanh khởi nhưng không một lời phát biểu nào có ý nghĩa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Hội chúng đã chọn bốn vị tỳ khưu ở hướng đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā. Đại đức Sabbakāmī, đại đức Sāḷha, đại đức Ujjasobhita, đại đức Vāsabhagāmika là (đại biểu) của các tỳ khưu ở hướng đông, đại đức Revata, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka, và đại đức Sumana là (đại biểu) của các tỳ khưu ở Pāvā.
Ðiểm chú ý nơi đây, là Ngài Vāsabhagāmika và Sumana là đệ tử của Ngài Anuruddha, còn 6 vị còn lại là đệ tử của Ngài Ānanda, mà các ngài Anuruddha và Ānanda đều là những vị có tầm cở trong đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.
Bốn vị đại diện cho phe bị cáo và bốn vị đại diện cho Chư Tăng trong ban giám luật. Thế là Ngài Revata nêu ra từng điều một trong 10 điều chủ trương sai của phái Tỳ khưu Vajji để hỏi Ngài Sabbakāmī:
Ðiều sai trái thứ nhất, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng vị Tỳ khưu nào giữ muối riêng để dùng thì phạm tội Ưng đối trị.
Ðiều sai trái thứ hai, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng ăn sái giờ là phạm tội, bất luận lúc đó là mặt trời chênh qua bao nhiêu.
Ðiều sai trái thứ ba, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng sau bửa ăn chính, vị nào còn dùng thêm một lần nữa thì phạm tội Ưng đối trị.
Ðiều sai trái thứ tư, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng khu vực Sīmā, Chư Tăng không được chia ra làm nhiều nhóm để làm lễ phát lồ.
Ðiều sai trái thứ năm, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng theo Campeyyakhandhaka, các Tăng sư Chư Tỳ khưu phải vào một lượt để cùng hành không được vào xen kẻ.
Ðiều sai trái thứ sáu, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng không nên căn cứ theo thầy tế độ và giáo thọ sư mà mọi việc nên y cứ theo kinh luật luận làm tiêu chuẩn để tu tập.
Ðiều sai trái thứ bảy, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng nếu vị nào không có bịnh hoạn mà sau giờ ngọ dùng sửa chua đặc thì phạm tội Pācittiya (Ưng đối trị).
Ðiều sai trái thứ tám, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng vị Tỳ khưu tuyệt đối không được dùng rượu, dù rượu ở bất nồng độ nào.
Ðiều sai trái thứ chín, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng vị Tỳ khưu không được dùng tọa cụ không có biên, vị nào dùng thì phạm tội.
Ðiều sai trái thứ mười, Ngài Sabbakāmī trả lời rằng vị Tỳ khưu nào cất giữ vàng bạc cho cá nhân thì phạm tội Ưng xả đối trị, nếu phạm thì xã bỏ tất cả rồi sám hối mới hết tội.
Mỗi câu trả lời của Ngài Sabbakāmī, Chư Tăng xác nhận là đúng theo quan niệm của Ðức Phật đồng thời Chư Tăng cũng tuyên bố rằng chủ trương của nhóm Tỳ khưu phá giới hành động theo 10 điều phi pháp đó hoàn toàn sai lầm để cho đại chúng hiểu biết và am tường.
Sau khi Ngài Revata điều chỉnh 10 điều phi pháp luật của nhóm Tỳ khưu Vajjiputta xong, 700 vị Thánh Tăng vô lậu bắt tay vào công việc kết tập Phật ngôn. Phương pháp kết tập kỳ này giống như kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, tuy nhiên kỳ kết tập kỳ này thời gian kéo dài đến 8 tháng.
[1] 10 điều học phi pháp là: được phép cất giữ muối trong ống sừng (kappati siṅgiloṇakappo), được phép ăn khi bóng mặt trời đã hai ngón tay (kappati dvaṅgulakappo), được phép đi vào làng rồi ăn thêm lần nữa (kappati gāmantarakappo), được phép hành lễ Uposatha riêng rẽ (kappati āvāsakappo), được phép hành sự không đủ tỳ khưu (kappati anumatikappo), được phép thực hành theo tập quán (kappati āciṇṇakappo), được phép uống sữa chua lúc quá ngọ (kappati amathitakappo), được phép uống nước trái cây lên men (kappati jaḷogiṃ pātuṃ), được phép sử dụng tọa cụ không có viền quanh (kappati adasakaṃ nisīdanaṃ), được phép tích trữ vàng bạc (kappati jātarūparajataṃ).
Khi tìm hiểu tôn giáo người ta thường đề cập đến giá trị tâm linh hay khía cạnh cứu rỗi của mỗi tôn giáo. Dưới lăng kính tín ngưỡng, hình ảnh giáo chủ của tôn giáo luôn là những đấng thiêng liêng, đầy uy nghiêm, cao vời vợi, và không thể tiếp xúc. Người ta chỉ có thể tiếp cận các ngài bằng lòng chí thành, sự tôn kính, lời ước nguyện, hy vọng và đợi chờ. Vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo nói chung là lo phần hồn cho tín đồ sau khi chết bằng những tín điều, lời răn, và sự hứa hẹn. Với chuyện đời thường, tôn giáo dường như ít quan tâm, nếu như không muốn nói là có rất ít liên hệ. Trong một nghĩa nào đó, nhiều người theo đạo Phật có lẽ cũng suy nghĩ như thế, bởi lẽ trong tâm của họ, hình bóng Đức Phật luôn ngự giữa hư không, ẩn hiện giữa các tầng mây ngũ sắc và đang quan sát những việc làm của họ. Điều này khiến họ yên tâm để hướng đến thế giới chân thiện mỹ bằng việc tu nhân tích đức, bố thí, phóng sanh nhằm hưởng quả báo tốt trong đời sau. Cách tư duy này có vẻ thiếu khôn ngoan và tích cực đối với tầng lớp trí thức. Tuy nhiên, nếu lúc nào đó mà cuộc sống bạn bất an bởi thế thái nhân tình hay tâm chao đảo bởi ngọn gió danh lợi vô thường, bạn hãy thử tắm mình trong thế giới tâm linh một lần, thử hướng lòng mình vào cõi hư không để tìm kiếm sức gia hộ từ năng lực siêu nhiên. Với không gian trầm lắng, với tấm lòng nhiệt thành, tôi nghĩ rằng bạn sẽ có được những phút giây tỉnh táo và sáng suốt hơn, có thể lấy lại sự cân bằng để suy nghiệm về cuộc sống. Thỉnh thoảng tôi cũng thường đối mặt với những khoảnh khắc như thế và thật sự thanh thản, an bình sau vài phút lắng lòng để cảm nghiệm tiếng vọng từ thinh không! Cảm giác của sự an lạc, trầm lắng khi hòa điệu với thiên nhiên là một thứ gì khó diễn đạt. Chỉ tự thân cảm nghiệm mới nhận chân được giá trị của hạnh phúc do nó mang lại.
Tất nhiên, Phật giáo không phải là tôn giáo chỉ hàm chứa những giá trị như thế. Giáo chủ của đạo Phật không chỉ ngự trên đài sen trong những ngôi chánh điện lộng lẫy, sơn son thiếp vàng, đèn hoa tráng lệ, hay giữa hư không đầy màu sắc huyền bí giám sát chúng sanh để phán xét, đợi chờ lời cầu nguyện để ban cho! Bởi vì qua đời sống Đức Phật chúng ta thấy rằng Ngài không phải là một vị thánh siêu nhiên, bất khả tiếp cận. Ngài không phải là một vị thần để thờ cúng lễ lạy. Ngài cũng không phải đấng sáng thế có quyền thưởng phạt sinh linh. Ngài vốn là con người, nhưng là con người đã giác ngộ, biết rõ từng nỗi đau của mọi con người: từ nghèo đến giàu, từ sang đến hèn, từ giới trí thức đến người thất học, đàn ông, phụ nữ, quý tộc, thấp hèn... Đức Phật hiện hữu khắp mọi nơi, trong từng ngõ ngách của cuộc sống! Nơi nào cần Ngài, ở đấy có Phật; vì hạnh nguyện của Phật là ban vui cứu khổ.
Một Tỳ-kheo trẻ xuất gia vì lòng mến mộ đức tướng của Phật. Sau một thời gian dài dong ruổi theo bước chân của Ngài, Tỳ-kheo ấy lâm trọng bệnh nên không thể diện kiến dung sắc của Ngài. Để thỏa ước nguyện trước giờ phút lâm chung của người học trò tội nghiệp, bậc đạo sư đã đến thăm Vekkhali, tên vị Tỳ-kheo, đang trú ngụ trong một căn chòi bé nhỏ lợp bằng tranh chỉ kê được một chiếc gường và để vừa một cái ghế. Sự xuất hiện của bậc Đạo Sư trong thời khắc ấy đã mang đến cho vị Tỳ-kheo niềm hỷ lạc vô biên, xua tan mọi nỗi đau, phiền muộn. Lời khuyến tấn “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật” đã khai mở tâm trí cho Vekkhali về những gì mà một người đệ tử Phật đáng trân trọng và tìm kiếm trong cuộc đời. Với sự tỏ ngộ này, chắc chắn Vekkhali đã cảm nhận được hạnh phúc của “khoảnh khắc là thiên thu” trong kiếp sống đầy vô thường huyễn hóa này.
Khi được biết Tôn giả Đại Ca-diếp (Maha Kassapa), đại đệ tử của mình, bị bệnh nặng kịch liệt và đang trú tại hang động Pipphali, Thế Tôn đích thân đến thăm, thuyết bài pháp “Bảy yếu tố giác ngộ”(Thất giác chi) giúp Tôn giả vượt qua được cơn bệnh. Sau đó, Đức Phật mời tôn giả về ở chung, san sẻ y áo, thuốc men và thức ăn với người học trò gương mẫu và đức hạnh của mình.
Với nhãn quan thế gian, những việc làm trên là thường tình, chuyện nhỏ, chỉ là cuộc viếng thăm người bệnh. Tuy nhiên, trong lãnh vực tâm linh, hành động ấy lại vô cùng ý nghĩa vì nó được Đức Phật, bậc Giác ngộ thực hiện. Thật không dễ gì để tìm thấy cách hành xử đầy lòng nhân ái và đậm tính nhân văn như thế trong cuộc đời của giáo chủ các tôn giáo! Bởi lẽ, đối với cảnh giới thần linh, cách hành xử như vậy chỉ xảy ra trong thế giới trần tục, những người còn nặng nợ ân tình với nhau, còn thế giới thần thánh chỉ liên quan đến đời sau, đến việc phán xét và thưởng phạt. Nếu vị giáo chủ của một tôn giáo thời danh đã giận dữ với cây sung tội nghiệp, buông lời nguyền rủa nặng nề và khai tử nó vì nó không thể đơm hoa kết trái khi chưa đúng thời vụ để thỏa mãn cơn đói khát của vị ấy, Đức Phật lại dạy hàng đệ tử của mình hãy bình tĩnh và sáng suốt trong việc hành xử với những gì trái ý của mình. Cùng song hành với Đức Phật trên đường, một thanh niên Bà-la-môn dùng vô số ngôn từ tốt đẹp để ca ngợi Ngài. Trong khi ấy, vị Bà-la-môn già, thầy của thanh niên kia, lại dùng tất cả những ngôn từ xấu xa để chê bai, phỉ báng Thế Tôn. Sau sự kiện đó, Đức Phật dạy rằng khi được người ta khen ngợi, đừng vì lời khen mà vui mừng. Thay vào đó, các đệ tử của Ngài hãy xem xét những lời khen đó có hiện hữu trong mình hay không! Nếu có thì ghi nhận là có và tiếp tục tu tập để làm lớn thiện nghiệp ấy; nếu không thì hãy nói rằng trong tôi không có những phẩm chất tốt đẹp ấy. Ngược lại, nếu bị người khác chỉ trích, phê bình, chống đối, đệ tử Phật hãy bình tâm quán chiếu, xem thử sự phê phán ấy có trong ta hay không, nếu có thì ghi nhận và sửa chữa. Nếu không có thì nói rằng những bất thiện pháp ấy không hiện diện trong cuộc sống của tôi.
Khó lòng tìm thấy được một người thầy tâm linh vĩ đại như Đức Phật, người tuyên bố đã giải thoát hoàn toàn mọi sự trói buộc của thế gian, lại quan tâm và thương mến con người đến như thế. Trước khi thị tịch, Đức Phật thọ nhận buổi cơm cuối cùng do người thợ rèn Cunda (Thuần Đà) cúng dường. Thức ăn mà Cunda chuẩn bị riêng cho Đức Phật là món đặc biệt có tên gọi Sukaramaddava (nấm rừng). Ăn xong Thế Tôn bị kiết lỵ nặng. Ngài phải dùng định lực để nhiếp phục cơn đau. Những biểu hiện từ ái, bao dung trong chút sức tàn còn lại của một người thầy trước giờ mãi mãi ra đi ắt sẽ khiến cho mọi người không thể cầm được nước mắt mỗi lúc hồi tưởng lại sự quan tâm lo lắng của Ngài: “Này Ananda, có thể có người trách Cunda về bữa ăn cuối cùng dành cho Ta, vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập diệt, và Cunda có thể ăn năn hối hận. Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ rèn Cunda bằng cách tuyên bố sự thật rằng có hai bữa ăn cúng dường cho Như Lai đem lại công đức lớn cho người cúng dường. Đó là bữa ăn trước giờ Như Lai thành đạo và bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai nhập Niết bàn… Này Anada, hãy nói như vậy để loại bỏ mọi nỗi ân hận của Cunda, nếu có”. Cách hành xử đầy lòng nhân ái và trí tuệ trên có thể đã chuyên chở đầy đủ ý nghĩa của lời dạy sau đây: “Thật sự này Simha, ta lên án những hành động, những cử chỉ đưa đến tội lỗi bằng lời nói, bằng tư tưởng hoặc bằng việc làm. Thật sự rằng, này Simha, Ta giảng dạy sự dập tắt, nhưng chỉ dập tắt lòng kiêu hãnh, tham lam, những tư tưởng tội lỗi và vô minh, mà không phải là sự dập tắt tính khoan dung, độ lượng, lòng yêu thương, nhân từ và chân lý”. Với những gì được chính Đức Phật thể hiện bằng cách sống, lối hành xử như trên chắc người ta sẽ không thể ngộ nhận thêm rằng đạo Phật là tôn giáo hủy diệt sự sống hay chỉ lo chuyện kiếp sau.
Cuộc đời đang tràn ngập khổ đau: nỗi đau do bệnh tật, do thiếu ăn, thiếu mặc, chiến tranh, hận thù, thiên tai, bão lụt; nỗi đau do mất mát người thân, sinh ly tử biệt, thế thái nhân tình, vô thường biến hoại…. Cuộc đời đang chờ những nhân cách đầy lòng từ bi, tâm trí tuệ che chở. Khó có ai sống trong thế giới này mà không cần đến sự chia sẻ, lòng yêu thương, đức nhân từ, khoan dung, độ lượng. Vì thế, hình ảnh của người thầy tâm linh như Đức Phật thật sự cần thiết cho cuộc đời này. Sự quan tâm, chia sẻ và lo lắng của Đức Phật trong chính cuộc sống đời thường là những liều thuốc kỳ diệu nhất có thể làm dịu mọi cơn đau cho nhân thế. Hãy đem Đức Phật vào trong thế giới này bằng cách áp dụng lời dạy của Ngài vào trong cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta để làm lắng dịu bớt nỗi đau của kiếp người. Khi đức hạnh và trí tuệ của Phật được hiện thực hóa bằng hành động của con người, cuộc đời sẽ trở nên an bình và hạnh phúc. Từ đây, người ta có lý do để tin vào một tương lai tốt đẹp trong một thế giới đầy tính nhân đạo nhân văn qua một nghệ thuật sống mà suốt 26 thế kỷ qua đã được nhân loại thẩm định giá trị.
Hãy săn sóc chủng tử Phật trong tâm của chúng ta! Hãy để cho hạt giống này đơm hoa kết trái trong mỗi hành vi, cử chỉ của mọi người! Hoa nở là mùa xuân về. Thế giới này luôn mãi là mùa xuân khi tâm từ bi được nuôi dưỡng, khi trí tuệ kết hoa. Ở đâu có từ bi trí tuệ, ở đó có hình bóng của Đức Phật, bởi lẽ “Phật ở đâu xa, Phật ở quanh ta, Phật ở đâu xa, Phật ở trong ta”.
Viên Trí
(Theo Giác Ngộ Online)
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetanava, vườn ông Anāthapiṇḍika, dạy các Tỷ-kheo:
Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Có hạng người đáng ghê tởm, không cần phải gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, cần phải nhìn một cách thản nhiên, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người đáng ghê tởm, không cần phải gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, tính tình độc ác, sở hành bất tịnh, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng hiện tướng có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, đầy những tham dục, tánh tình bất tịnh. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, đáng ghê tởm, không cần phải gần gũi, không cần phải sống chung, không cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Vì rằng, dầu không thuận theo một chút nào tri kiến của người như vậy, nhưng tiếng xấu được đồn xa về người ấy là có bạn ác, có bằng hữu ác, tôn sùng kẻ ác…
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người cần phải nhìn một cách thản nhiên, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít cũng tức tối, phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, hiện rõ phẫn nộ, sân hận và bực tức. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nhìn với cặp mắt thản nhiên, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Vì nghĩ rằng: “Người ấy có thể nhục mạ ta. Người ấy có thể chửi mắng ta. Người ấy có thể làm hại ta”…
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người giữ giới, tánh tình hiền thiện. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Vì rằng, dầu không thuận theo chút nào tri kiến của người như vậy, nhưng tiếng tốt được đồn xa về người ấy là có bạn lành, là có bằng hữu lành, là tôn sùng kẻ lành. Cho nên, hạng người như vậy, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường.
(Kinh Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Người [lược])
SUY NGHIỆM:
Sống và ứng xử với mọi người trong xã hội sao cho đúng đắn, thuận tình và hợp lý là cả một nghệ thuật. Đức Thế Tôn thật minh triết khi chỉ dạy quan điểm ứng xử với mọi người, nhất là với người xuất gia thật phân minh, rõ ràng. Theo Thế Tôn, giới hạnh hay đức hạnh, đạo đức của một cá nhân chính là nhân tố quan trọng nhất để hàng Phật tử chúng ta bày tỏ và thể hiện ứng xử cung kính, thân cận nhằm nương tựa học tập noi gương. Ngoài yếu tố đạo đức ra, dù cá nhân ấy có mang bất cứ hình thức nào cũng chỉ là hạng người “đáng ghê tởm”, không đáng để quan tâm hay chỉ “nhìn một cách thản nhiên” mà thôi.
Trước hết, đối với hạng người tham lam, độc ác, luôn gian dối và che đậy những việc làm xấu ác và tệ hại của mình, không chỉ là người thế tục mà có thể họ là một số người tu biến chất hay đội lốt người tu vì những mục đích xấu xa, những người này dù họ có hình thức như thế nào đi nữa cũng đáng bị khinh miệt, ghê tởm. Người con Phật chân chính quyết không thân cận cũng như hầu hạ, cúng dường hạng người này.
Đối với hạng người nhiều nóng giận, hay sân si, lắm bực bội thì chúng ta nên tránh xa, cũng chẳng nên thân cận vì lợi bất cập hại, như cầm đuốc đi ngược gió sẽ khó tránh được họa cháy tay. Chỉ “nhìn một cách thản nhiên” tức không quan tâm để ý hay ly khai với người nhiều nóng giận là một cách ứng xử khôn ngoan, tinh tế nhất. Trong trường hợp phải sống chung thì cần “kính nhi viễn chi”, kính mà không gần họ, dù cho đó là bề trên đi nữa.
Chỉ có hạng người có giới đức, đạo hạnh với tính tình hiền thiện mới đáng để cho chúng ta “cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường”. Dù rằng, những người này có thể họ rất bình thường, không danh phận, không chức vụ và thậm chí cũng có thể chư vị là những hành giả sống ẩn dật hay lang thang vô định.
Mới hay, phẩm chất đạo đức hay giới hạnh của một người mới là điều quan trọng nhất. Vì có giới mới có định, tuệ và có sự thảnh thơi, giải thoát. Cho nên, những người con Phật chúng ta phải tỉnh táo và mở to đôi mắt trí tuệ để ứng xử hợp lý nhằm thân cận, tôn vinh và cúng dường sao cho mình và mọi người đều được lợi lạc.
Quảng Tánh
(Theo Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay 14)
Ukāsa.
Tôi xin tôn kính.
Yo pana dhammānudhammapaṭipanno viharati sāmīcipaṭipanno anudhammacārī so Tathāgataṃ sakkaroti garukaroti māneti pūjeti paramāya pūjāya paṭipattipūjāya.
Người nào tu hành hằng ở theo lẽ chánh, hằng hành theo điều chánh, người ấy gọi là người hết lòng thành kính, sùng bái đức Như Lai, bằng cách cao thượng, vì đã được hành theo Chánh pháp.
Sabbapāpassa akaraṇaṃ.
Tư cách chẳng làm tất cả điều dữ.
Kusalassāpasampadā.
Tư cách làm những việc lành.
Sacittapariyodapanaṃ.
Tư cách làm cho tâm mình trong sạch.
Etaṃ Buddhānasāsanaṃ.
Những tư cách ấy là Giáo-Pháp của Chư Phật.
Khantī paramaṃ tapo titikkhā,
Nibbānaṃ paramaṃ vadanti buddhā,
Na hi pabbajito parūpaghātī,
Samaṇo hoti paraṃ viheṭhayanto.
Sự nhịn nhục là Pháp thiêu hủy cao thượng, Chư Phật đã giải rằng: Niết-bàn là đức cao thượng, bậc xuất gia mà làm khó chúng sanh, thì chẳng phải bậc xuất gia, chẳng phải bậc Sa-Môn.
Anūpavādo anūpaghāto.
Tư cách không phỉ báng (kẻ khác).
Tư cách không làm khổ (kẻ khác).
Paṭimokkhe ca saṃvaro.
Tư cách thu thúc trong Giới Bổn.
Mattaññutā ca bhattasmiṃ.
Sự biết tiết độ trong thực phẩm.
Pantañca sayanāsanaṃ,
Adhicitte ca āyogo,
Etaṃ Buddhānasāsanaṃ.
Tư cách nằm ngồi trong nơi thanh vắng, tư cách cố gắng trong sự tu tâm. Những điều ấy là Giáo Pháp của Chư Phật.
Sīlasamādhiguṇānaṃ,
Khantī padhānakāraṇaṃ,
Sabbepi kusaladhammā,
Khantyāyeva vaddhanti te.
Tất cả các Pháp lành ấy, hằng được tăng tiến, do nhờ sự nhịn nhục; Sự nhịn nhục là nguyên nhân phát sanh Giới và Định.
Kevalānaṃpi pāpānaṃ,
Khanti mūlaṃ nikantati,
Garahakalahādīnaṃ,
Mūlaṃ khaṇati khantiko.
Sự nhịn nhục dứt trừ được nguồn cội tất cả tội lỗi, người nhịn nhục gọi là người đã trừ tuyệt gốc rễ tội lỗi, nhứt là tội phỉ báng, mắng nhiếc, cãi lẫy.
Khantī dhīrassalaṅkāro.
Sự nhịn nhục là khí cụ của bậc Trí tuệ.
Khantī tapo tapassino.
Sự nhịn nhục là pháp thiêu hủy của người có pháp thiêu hủy.
Khantī balaṃ va yatīnaṃ.
Sự nhịn nhục là khí lực của người hành giả.
Khantī hitasukhāvahā.
Sự nhịn nhục là đức đem đến điều lợi ích cùng sự an vui.
Khantiko mettavā lābhī,
Yasassī sukhasīlavā,
Piyo devamanussānaṃ,
Manāpo hoti khantiko.
Người nhịn nhục hằng có bằng hữu, có tài lợi, có sự an vui. Người nhịn nhục là nơi yêu mến vừa lòng của Chư Thiên và tất cả nhân loại.
Attanopi paresañca,
Atthāvahova khantiko,
Saggamokkhagamaṃ maggaṃ
Āruḷho hoti khantiko.
Người nhịn nhục làm được nhiều điều lợi ích cho mình và cho kẻ khác. Người nhịn nhục là người đi trên đường về cõi Trời và Niết-bàn.
Satthuno vacanovādaṃ,
Karotiyeva khantiko,
Paramāya ca pūjāya,
Jinaṃ pūjeti khantiko.
Người nhịn nhục là người thật hành theo Giáo Pháp của Phật, người nhịn nhục là người sùng bái Đức Phật bằng cách cao thượng.
Dullabhañca manussattaṃ,
Buddhuppādo ca dullabho,
Dullabhā khaṇasampatti,
Saddhammo paramadullabho.
Phẩm cách sanh ra làm người, chúng sanh khó mà sanh ra được. Phẩm cách chứng quả Phật, chúng sanh khó mà chứng được.
Phẩm cách gặp thời kỳ, là sanh ra gặp Đức Phật, hoặc Phật Pháp, chúng sanh khó mà gặp được. Pháp của bậc Thiện Trí Thức, chúng sanh rất khó mà học được.
Sukho buddhānamuppādo,
Sukhā saddhammadesanā,
Sukhā saṅghassa sāmaggī,
Samaggānaṃ tapo sukho.
Phẩm cách được chứng quả của Chư Phật, đem đến sự an vui, cách giảng giải về Pháp của bậc Thiện Trí Thức, đem đến sự an vui.
Sự hòa hợp của Chư Tăng, hoặc của phe đảng, đem đến sự an vui, sự cố gắng của những người hòa hợp, đem đến sự an vui.
Sukho viveko tuṭṭhassa,
Sutadhammassa passato.
Sự yên tịnh của người vui trong chỗ thanh vắng, là người đã được nghe Pháp, đã suy tưởng thấy Pháp, đem đến sự an vui.
Abyāpajjhaṃ sukhaṃ loke
Pāṇabhūtesu saññamo.
Cách không làm khó, cách thu thúc đối với chúng sanh, đem đến sự an vui.
Sukhā virāgatā loke,
Kāmānaṃ samatikkamo,
Asmimānassa vinayo,
Etaṃ ve paramaṃ sukhaṃ.
Phẩm hạnh tránh xa tình dục, là cách thoát khỏi tình dục, đem đến sự an vui tuyệt đối.
Cách làm cho tiêu tan ngã mạn, đem đến sự an vui.
Kiccho manussapaṭilābho.
Cách luân hồi lại làm người là việc khó.
Kicchaṃ maccāna jīvitaṃ.
Kicchaṃ saddhammassavanaṃ.
Sự nuôi mạng sống của tất cả chúng sanh là việc khó, sự được nghe Phật Pháp, là việc khó.
Kiccho buddhānamuppādo.
Cách được chứng quả của Chư Phật là việc khó.
Satthuno saddhammaṃ sutvā,
Sabbasmiṃ jinasāsane,
Kappāni satasahassāni,
Duggatiṃ so na gacchati.
Người đã nghe Phật Pháp mà được hành theo giáo lý của Chư Phật, thì chẳng bị đọa vào ác đạo, trọn 10 ngàn kiếp.
Pubbaṇhe piṇḍapātañca,
Sāyaṇhe dhammadesanaṃ,
Padose bhikkhu ovādaṃ,
Aḍḍharatte devapañhanaṃ,
Paccūseva gate kāle,
Bhabbābhabbe vilokanaṃ,
Ete pañcavidhe kicce,
Visodheti munipuṅkavoti.
Đức Phật lớn hơn tất cả các bậc Trí tuệ, Ngài làm trọn cả 5 phận sự:
1. Trong buổi mai, Ngài ngự đi trì bình khất thực.
2. Trong buổi chiều, Ngài thuyết pháp độ sanh.
3. Trong lúc hoàng hôn, Ngài giáo hóa các hàng Tỳ khưu.
4. Trong canh khuya, Ngài đáp lời vấn của Chư Thiên.
5. Trong canh năm, Ngài xem xét đến chúng sanh, coi hạng nào nên giác ngộ, cùng không nên giác ngộ.
Kukkuṭe gabbhavāso ca,
Soṇe cudaranikkhami,
Usabhe rājasampatti,
Sase pabbajito jino.
Đức Bồ-Tát giáng sanh vào lòng Phật mẫu trong năm Dậu, Ngài sanh ra trong năm Tuất, Ngài lên ngôi Vua trong năm Sửu, Ngài xuất gia trong năm Mão.
Kukkuṭe sabbaññū buddho,
Tattha cakkaṃ pavattayi,
Nibbānagamanaṃ sappe,
Sahassaṃ pañca mūsike.
Ngài chứng quả Phật trong năm Dậu, Ngài chuyển “Pháp-Luân” trong năm ấy, Ngài nhập Niết-bàn trong năm Tỵ. Phật Pháp đủ chẵn 5 ngàn năm trong năm Tý.
Okkanto ca guruvārasmiṃ,
Sukkavāre ca nikkhami,
Sambuddho buddhavārasmiṃ,
Aṅgāre parinibbuto.
Ngài giáng sanh vào lòng Phật mẫu trong ngày thứ năm, sanh ra trong ngày thứ sáu, được chứng quả Phật trong ngày thứ tư, nhập Niết-bàn trong ngày thứ ba.
Āsaḷhapuṇṇamokkanto,
Visākhe yeva nikkhami,
Visākhapuṇṇamī sambuddho,
Visākhe parinibbuto.
Ngài giáng sanh vào lòng Phật mẫu trong ngày Rằm tháng Sáu, đản sanh trong ngày Rằm tháng Tư, được chứng quả Chánh-Biến-Tri trong ngày Rằm tháng Tư, Ngài nhập Niết-bàn trong ngày Rằm tháng Tư.
Nibbute Iokanāthamhi,
Sambuddhe aggapuggale,
Paṭimā bodhirukkhā ca,
Thūpā ca jinadhātuyo,
Caturāsītisahassa,
Dhammakkhandhā sudesitā,
Aggappavattanaṭṭhāne,
Ṭhapitā honti pāniṇaṃ.
Khi Đức Chánh-Biến-Tri là bậc cao thượng, là nơi xu hướng của tất cả chúng sanh đã nhập Niết-bàn, Ngài để lại trong thế gian, những Kim thân, Bảo tháp, cây Bồ-Đề, Xá-Lợi tháp và 8 muôn 4 ngàn Pháp môn, đặng chúng sanh ức niệm và hành theo cho đặng hạnh phúc cao thượng.
lti sammāsambuddhena desitaṃ ovādaṃ citte ṭhapetvā sammāsambuddhena vuttappakārena paṭipattipūjāya pūjaṃ karontena lokiyalokuttara sampattisiddhaṃ kātabbaṃ.
Ukāsa ārādhaṇaṃ karomi.
Người nên hết lòng ghi nhớ, những lời giáo huấn của đức Chánh-Biến-Tri, nên xu hướng theo, nên hành theo những điều mà đức Chánh-Biến-Tri đã chỉ dẫn, hành theo cho được kết quả hữu lậu, cùng quả vô lậu, tôi xin hết lòng hoan hỷ ghi nhớ những điều như thế.
Ukāsa
Tôi xin tôn kính.
Sirīsakyamunisabbaññūbuddhassa balavapaccūsasamaye kusiṇārāya yamakasālānamantare amumhi sappasaṃvacchare gimha utumhi visākhamāse sukkapakkhe paṇṇarasiyā tithiyaṃ bhummavāre bhummayāme anurādhanakkhattadivase parinibbānaṃ ahosi anupādisesāya nibbānadhātuyā.
Đức Sakyamuni Chánh-Biến-Tri, là đấng Giáo chủ, Ngài đã nhập Vô dư Niết-bàn, vừa lúc rạng đông, tại khoảng trống giữa hai cây Song Long Thọ, gần thành Kusiṇārā, trong ngày thứ tư, trong mùa hạn năm Tỵ.
Kệ Tụng Thánh Hội
Nay tháng Giêng trăng tròn âm lịch
Tiết nguyên tiêu sự tích còn ghi
Hào quang rạng ánh từ bi
Tăng già thắng hội nan nghì nhân duyên
Cả hội chúng thánh hiền cụ túc
Nghìn hai trăm năm chục Tỳ khưu
Thiện Lai nhập đạo tối ưu
Viên thông tứ quả gương lưu cõi đời
Tự vân tập không lời mời thỉnh
Chốn đạo tràng thanh tịnh Trúc Viên
Hướng về hội chúng trang nghiêm
Phật ban giáo chỉ thiêng liêng bảo tồn
Hỡi Tăng chúng Thế Tôn quá khứ
Hội Thánh Tăng đầy đủ ba lần
Tháng Giêng bố tát ngày rằm
Biệt Giải Thoát Giáo pháp âm lưu truyền
Nay ta chỉ một phiên thánh hội
Bởi nhân duyên tùy mỗi thời kỳ
Vì rằng tuổi thọ hiện thời
Ngắn hơn những kiếp loài người thịnh hưng
Hỡi Tăng chúng lắng lòng nghe rõ
Thầy Tỳ khưu sùng mộ Như Lai
Là người chơn chánh triển khai
Tam học diệu pháp Như Lai giáo truyền
Các điều ác cần chuyên dứt bỏ
Những hạnh lành gắng cố trau giồi
Giữ tâm thanh tịnh trọn đời
Ấy lời chư Phật ba thời dạy khuyên
Pháp nhẫn nại thắng duyên tối thượng
Quả niết bàn lạc tịnh tối ưu
Xuất gia không hận không thù
Giữ lòng từ ái cho dù hiểm nguy
Không phỉ báng không gây thương tổn
Giữ mình theo giới bổn thọ trì
Uống ăn tiết độ quán tri
Ðộc cư thiền định chuyên trì công phu
Nhẫn nại pháp tối ưu căn bản
Khiến hạnh lành giới định đặc thù
Diệu năng nhẫn nại đoạn trừ
Căn nguyên lầm lỗi cho dù tế thô
Mọi tranh chấp hơn thua phải quấy
Dùng nhẫn kham hoá giải chấp tranh
Nhẫn nại trang phục tuyệt trần
Của hàng trí giả đạo căn kiên cường
Pháp nhẫn nại là nguồn cội phúc
Là bạn hiền tài lộc uy danh
Tự tha lợi lạc phúc lành
Trời người quí kính thác sinh cõi trời
Cuối sanh tử chứng ngôi bất tử
Liễu niết bàn bất khứ bất lai
Ðúng là ngưỡng mộ Như Lai
Cúng dường chư Phật cách này tối ưu.
Người Việt có câu "phép vua thua lệ làng". Những phong tục dân gian lắm lúc được biết nhiều hơn là những nguyên tắc chánh truyền. Lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng là một trường hợp điển hình. Tên Phạn ngữ của đại lễ là Māghapūjā có nghĩa là lễ hội ngày rằm tháng Māgha - tương đương với tháng Giêng theo lịch Trung Hoa. Gọi là Thượng Nguyên là cách phân chia theo Âm Lịch cùng với Rằm tháng Bảy là Trung Nguyên và Rằm tháng Mười là Hạ Nguyên.
Người Phật tử Việt Nam thường đi chùa xin dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn. Vì là ngày Rằm đầu năm nên các chùa tổ chức lễ rất trọng thể. Đại lễ Rằm Tháng Giêng theo truyền thống Phật Giáo mang hai ý nghĩa: Thứ nhất kỷ niệm ngày Ðức Phật thuyết kinh Giải Thoát Giáo tại Thánh Hội Tăng Già. Thứ hai kỷ niệm đánh dấu ngày Đức Phật công bố Giáo Pháp đã được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa.
Kinh Giải Thoát Giáo – Ovadapāṭimokkha- là bài kinh cô đọng về Giáo Pháp của chư Phật, căn bản của đời sống tu tập và tôn chỉ hoằng pháp. Mở đầu bài kinh Ðức Thế Tôn dạy rằng sự cúng dường Ðức Phật bằng cách cao quí nhất là sự hành trì Phật Pháp.
Yo pana dhammānudhammapaṭipanno viharati sāmīcipaṭipanno anudhammacārī so tathāgataṃ sakkaroti garukaroti māneti pūjeti paramāya pūjāya paṭipattipūjāya.
Ai hành trì chánh Pháp
Là cúng dường Ðức Phật
Bằng cách cao quí nhất
Trong các sự cúng dường
Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều: không làm các ác nghiệp, huân tu hạnh lành và thanh lọc tâm ý. Câu kinh nầy đã trở thành lời toát yếu Phật Pháp quen thuộc với mọi người Phật tử.
Sabbapāpassa akaraṇaṃ
Kusalass' ūpasampadā
Sacittapariyodapanaṃ
Etaṃ buddhānasāsanaṃ.
Không làm các nghiệp ác
Năng tu tập hành hạnh lành
Thanh lọc tâm thạnh tịnh
Là huấn ngôn chư Phật
Tiếp theo Ðức Phật nhấn mạnh khả năng kham nhẫn trong cuộc sống tu tập. Vị sa môn trên đường đạo phải học đức chịu đựng nhẫn nại. Trước hết là đối với bản thân. Đức Từ Phụ nhắc nhở về con đường giải thoát mà chư Phật truyền dạy đều đòi hỏi sự kiên tâm. Tự chế không nuôi hiềm hận, nghiêm trì giới luật, phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, sống thanh tịnh độc cư, sống với tâm hướng thượng là những pháp căn bản của người cầu đạo giải thoát.
Khantī paramaṃ tapo titikkhā
Nibbānaṃ paramaṃ vadanti buddhā
Na hi pabbajito parūpaghātī
Samaṇo hoti paraṃ viheṭhayanto.
Anūpavādo anūpaghāto
Paṭimokkhe ca saṃvaro
Mattaññutā ca bhattasmiṃ
Pantañca sayanāsanaṃ
Adhicitte ca āyogo
Etaṃ buddhānasāsanaṃ.
Diệt ác bằng nhẫn nại
Là pháp môn tối thắng
Chứng giải thoát niết bàn
Là thành tựu tối thượng
Sa môn không hiềm hận
Luôn tinh nghiêm giới luật
Sống phòng hộ các căn
Tiết độ trong ẩm thực
Sống thanh tịnh độc cư
Hướng tâm cầu giải thoát
Đi xa hơn Ðức Phật dạy thế nào là cái đẹp, cái được, cái nổi bật mà một người trên đường đạo nên mong mỏi. Pháp nhẫn nại là trang sức đẹp nhất; là điều kiện tất yếu cho các thiện pháp phát triển; là trang sức của người trí; là vẻ đẹp của người hiền; là điều kiện dẫn đến những thành tựu trong cuộc sống. Nhẫn nại là phương cách diệu dụng hóa giải mọi tranh chấp.
Sīlasamādhiguṇānaṃ
Khantī padhānakāraṇaṃ
Sabbepi kusaladhammā
Khantyā-y-eva vaddhanti te.
Kevalānaṃ pi pāpānaṃ
Khanti mūlaṃ nikantati
Garahakalahādīnaṃ
Mūlaṃ khaṇati khantiko.
Khanti dhīrassa laṅkāro
Khanti tapo tapassino
Khanti balaṃ va yatīnaṃ
Khanti hitasukhāvahā.
Tất cả các hạnh lành
Lớn mạnh nhờ kiên tâm
Với hiền trí trong đời
Dùng nhẫn là sức mạnh
Làm sang bằng nhẫn nại
Làm đẹp bằng nhẫn nại
Làm giàu bằng nhẫn nại
Thành công với nhẫn nại
Những tranh chấp lớn nhỏ
Hóa giải nhờ nhẫn nại
Đức Phật cũng nêu rõ tôn chỉ hoằng pháp khi Ngài dạy chư Tăng: Đời sa môn sống vì lợi ích của muôn loài. Không dụ dỗ, hăm dọa, hay dùng phỉ báng, phá hoại tha nhân. Con đường giải thoát giác ngộ là con đường của những người tự giác.
Không mê hoặc, doạ hẩm
Không gây thương tổn ai
Sa môn hoằng đạo cả
Vì lợi lạc cho đời
Một học giả Phật giáo gọi kinh Giải Thoát Giáo là bản tuyên ngôn về tôn chỉ tu tập và hoằng pháp của Tăng lữ. Bản tuyên ngôn đó đã được Đức Phật long trọng trình bày trước một thính chúng toàn bậc thánh nhơn giải thoát. Tất cả đã im lặng mặc nhiên đón nhận.
Thánh Hội Tăng Già là một sự cố hy hữu xảy ra duy nhất một lần trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thuở ấy, Đức Bổn Sư đang trú ở chùa Trúc Lâm tại thành Rājagaha. Đó ngày trăng Rằm tháng Māgha (tháng Giêng). Mặc dù không một lời mời nào, 1250 vị thánh Tăng tự vân tập về. Tất cả đều là bậc thánh tứ quả vô lậu giải thoát và đều xuất gia bằng lời gọi của Đức Phật: "Ehi bhikkhu - Thiện lai Tỳ Kheo". Những bậc phước huệ vẹn toàn đó đã ngồi vây quanh dưới chân của Đấng Đại Giác trong sự im lặng tuyệt đối. Những lời giản dị nhưng thâm sâu của Phật được đón nhận bởi những tâm hồn cao khiết. Dưới ánh trăng vằng vặc sáng trong vườn trúc, tiếng nói giác ngộ được nói lên bởi con người giác ngộ cho một hội chúng giác ngộ. Quả là một cuộc gặp gỡ vô tiền khoáng hậu.
Rằm Tháng Giêng cũng kỷ niệm ngày Đức Phật tuyên bố đạo tròn duyên mãn và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa. Sau 45 năm hoằng đạo, Ðức Phật kết thúc năm sau cùng bằng cuộc hành trình dài. Năm ấy Ngài đã 80 tuổi. Con đường từ Rājagaha về Kusinārā ghi lại nhiều sự cố quan trọng. Tại Vesalī, Đức Điều Ngự "với cái nhìn của con voi chúa" đưa mắt quanh núi đồi thanh tú của xứ Vajjī lần sau cùng. Buổi trưa hôm đó tôn giả Ānanda vị thị giả của Ðức Như Lai cảm nhận sự rung chuyển mạnh của một cơn động đất trong khi đang thiền tịnh. Tôn giả đến gặp bậc Đạo Sư và từ kim khẩu của Phật tôn giả được biết rằng Đức Phật đã quyết định sẽ viên tịch sau 3 tháng tới. Không cầm được nước mắt, người đệ tử trung kiên nầy đã khẩn cầu Ðức Phật trụ thế lâu hơn. Đức Phật ôn tồn:
Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ānanda, những ai nghĩ rằng: "Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai" thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta" thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ānanda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ānanda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ānanda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
Rằm Tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Pháp Bảo - Dhamma Day. Cùng với ngày Phật Bảo (đại lễ Rằm Tháng Tư) và ngày Tăng Bảo ( Lễ Kaṭhina tháng Mười.) Bởi vì nội dung kinh Giải Thoát Giáo được xem là tôn chỉ của Giáo Pháp nên đại lễ nầy được gọi là Ngày Pháp Bảo.
Thọ Trì Hạnh Đầu Đà là cách cúng dường bằng sự tu tập. Lời xưa Phật dạy ai hành trì chánh pháp là cúng dường Như Lai bằng cách cao thượng. Nay những đệ tử cúng dường Phật bằng một đêm tu học không ngủ. Chữ đầu đà là phạn âm của từ ngữ Dhutaṅga có nghĩa là pháp tiêu trừ phiền não. Có tất cả là 13 hạnh đầu đà. Quyển Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích tường tận về mỗi hạnh với hiệu năng đối trị những phiền não khác nhau. Hạnh đầu đà trong đại lễ là hạnh sau cùng của mười ba hạnh. Đây là pháp tiết chế sự mê ngủ bằng cách chỉ đi, đứng, ngồi chứ không nằm. Nói cách khác đây là một đêm không ngủ tu tập cúng dường Ðức Phật. Thiền sư Buddhadāsa ghi lại những kinh nghiệm bản thân khi Ngài thức đêm thiền định trong rừng: "thế giới về đêm quả có nhiều điểm kỳ diệu. Hình như trong sự yên tĩnh của màn đêm có cả bao nhiêu sự sống động tiềm ẩn. Những ai theo đuổi cuộc sống tinh thần không nên bỏ qua kinh nghiệm quí báu nầy." Tùy theo mỗi chùa, đêm đầu đà có thể bao gồm nhiều tiết mục tu học. Thường thì gồm có thuyết pháp, luận đạo, tụng kinh, kệ kinh, hành thiền, kinh hành ..v.v.. Nói chung là những sinh hoạt tu học khó tìm thấy ở những đại lễ khác.
Cúng đèn cũng là một nghi thức đặc biệt của đại lễ. Túc Sanh Truyện cho chúng ta biết không phải chỉ có trong thời Đức Phật đến nay mới có việc cúng đèn. Từ thời xa xưa đã có cách dúng dường như vậy. Nền văn minh Ấn hà có tục thờ lửa nên xem đèn như một lễ phẩm quan trọng trong nghi thức tôn giáo. Thời xưa đèn là một nhu yếu cho các pháp hội buổi tối. Vì thế cúng đèn cũng là cúng dường Pháp Bảo. Dù làm cho sáng hay cho đẹp thì theo lý Nhân Quả người cúng đèn có phước quả sanh làm người có gương mặt sáng lạn, ngoài ra nếu có nguyện lực cũng là nhân sanh trí huệ. Người Phật tử Việt nam xem hương, đăng, hoa, quả là bốn lễ phẩm cúng dường chính cho bàn thờ. Vì lễ thọ đầu đà tổ chức buổi tối nên cúng đèn mang lại không khí thiêng liêng đặt biệt. 28 ngọn đèn được thắp để cúng dường 28 vị Chánh Đẳng Chánh Giác như trong Buddhavamsa ghi chép. 108 ngọn đèn để tiêu tai bạt nghiệp từ 6 căn, 6 cảnh, 6 thức thuộc nội phần và ngoại phận trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai ((6+6+6) x 2 x 3 = 108). Tục cúng cúng sao giải hạn vào lễ Thượng Nguyên cũng lấy việc cúng đèn làm nghi thức chánh. Nói chung dù theo truyền thống hay tập tục thì lễ Thượng Nguyên vẫn có hai điểm nổi bật là cúng dường ngày Pháp Bảo và cầu an cho bản thân và gia đình.
a) Nguyên nhân:
Ngài Mahākassapa nhận thấy Ðức Thế Tôn nhập Níp-bàn mới có một tuần lễ mà lại có chuyện không hay xảy ra trong Tăng đoàn. Chuyện là lúc ngài Mahākassapa và năm trăm Tỳ khưu đang chu du truyền đạo ở Pàvà và nghe tin loan truyền từ người này sang người nọ, là Ðức Thế Tôn viên tịch. Trước tin chẳng lành đó một số Chư Thánh Tăng điềm nhiên trong oai nghi tế hạnh, còn một số phàm Tăng thì buồn bã tiếc nuối bậc đạo sư rằng:
- Đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn quá sớm, đấng Thiện Thệ Vô Dư Niết Bàn quá sớm, bậc Trí Tuệ đã biến mất trên đời quá sớm!
Rồi Chư Thánh Tăng an ủi và khuyến khích Chư Phàm Tăng bằng thuyết vô thường:
- Này các sư đệ, đủ rồi! Chớ có buồn rầu, chớ có than vãn nữa. Này các sư đệ, không phải điều ấy đã được đức Thế Tôn khuyến cáo và đề cập đến hay sao? Chính ngay với tất cả các vật thân yêu vừa ý đều có bản chất đa dạng, có bản chất không thật, và có bản chất thay đổi. Này các sư đệ, nhưng vì sao việc ấy lại có thể xảy ra ở đây? Bởi vì vật gì sanh lên, tồn tại, thay đổi, thuận theo pháp thế gian, (nếu nghĩ rằng): ‘Mong sao vật ấy chớ có bị hư hoại;’ sự kiện này không thể có được!
Tuy nhiên lúc đó có một vị Tỳ khưu lớn tuổi và mới xuất gia tên là Subhada chưa có niềm tịnh tín nơi bậc Đạo sư nên có những thái độ và những lời nói bất kính với Ðức Phật như sau:
- Này các vị, thôi đi! Chớ có buồn rầu, chớ có than vãn nữa. Chúng ta được hoàn toàn tự do rồi, chúng ta đã bị vị đại sa-môn ấy làm khó khăn rằng: ‘Điều này được phép cho các ngươi, điều này không được phép cho các ngươi.’ Giờ đây, điều gì chúng ta thích chúng ta sẽ làm điều ấy, điều gì chúng ta không thích chúng ta sẽ không làm điều ấy.
Câu nói của vị Tỳ khưu già đó tỏ ra xem thường giáo pháp và chưa gì thì muốn tách rời pháp luật của bậc đạo sư. Ngài Mahākassapa nghe như vậy cảm thấy xót xa và lo ngại cho tiền đồ của Phật giáo, nhưng Ngài làm ngơ để lo chu toàn việc an táng Ðức Thế Tôn. Sau khi an táng Thế Tôn xong, Ngài đem câu chuyện ấy trình bày lên Tăng chúng và nói lên sự lo ngại cho nền đạo pháp về sau:
- Nếu vậy thì từ nay phi pháp, phi luật sẽ phát huy, pháp và luật sẽ suy đồi; chủ trương phi pháp, phi luật sẽ nhiều, còn những chủ trương pháp luật sẽ bị giảm thiểu.
Cho nên với tư cách là một vị tăng được Ðức Thế Tôn ban cho là đệ tử nhất về "Hạnh đầu đà", ngài Mahākassapa không muốn đạo pháp mai một về sau, và liền đứng ra triệu tập 500 vị Thánh Tăng để kết tập. Tuy nhiên Ngài chỉ tuyển chọn được 499 vị nghĩa là còn thiếu một vị nữa. Ngài thấy không vị nào ngoài Ðại Ðức Ānanda được, vì Ðại Ðức là một vị làu thông Phật ngôn do Ðức Thế Tôn thuyết giảng trong suốt 45 năm. Tuy nhiên, Ðại Ðức chưa phải là bậc Thánh A La Hán vô lậu nên ngài Mahākassapa động viên Đại Đức, và chờ Đại Đức khi nào đạo quả viên mãn thì cuộc kết tập mới khai mạc.
b) Niên đại, địa điểm, vị chủ tọa và người bảo trợ
Niên đại chính xác của đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất là sau ba tháng Ðức Thế Tôn viên tịch.
Ngài Mahākassapa triệu tập đầy đủ 500 vị A La Hán với nhau tại thạch động Sattapaṇṇa trên núi Vebhāra ở thành Rājagaha để kết tập Phật ngôn.
Sau khi tuyển chọn thành phần kết tập và đã có địa điểm sẳn, Ngài Mahākassapa bắt đầu Tụng tuyên ngôn và đề nghị với Chư Thánh Tăng ba điều:
- Số lượng tham dự kết tập kỳ này chỉ chọn 500 vị mà thôi, trong thời gian kết tập không được thêm hoặc bớt.
- Chọn thạch động Sattapaṇṇa trên núi Vebhāra trong thành Rājagaha là địa điểm kết tập.
- Cấm tuyệt đối những vị Tỳ khưu nào không phải là thành viên kết tập kinh điển đến an cư kiết hạ mùa mưa tại thành Rājagaha. Lý do như vậy là đề phòng hai điều xảy ra:
a) chư vị kết tập sẽ gặp khó khăn trong vấn đề đi khất thực;
b) phòng ngừa sẽ có những vị ác tâm đến phá cuộc kết tập kinh điển.
Chư Thánh hiền Tăng đã thỏa thuận với nhau ba điều trên, rồi cùng nhau kéo đến thành Rajagaha yêu cầu nhà vua A Xà Thế (Ajātasattu) giúp đỡ bằng cách cho nới rộng 18 Tăng đường cho chư vị kết tập có chổ nghỉ ngơi. Ðức vua hoan hỷ nhận lời và đứng ra bảo trợ toàn bộ chi phí cuộc kết tập kinh điển.
Lúc này Ðại Ðức Ānanda cũng vừa đắc quả vị A La Hán nên đại hội bắt đầu khai mạc. Người chủ tọa kết tập Tam tạng lần thứ nhất là Trưởng lão Mahākassapa, đồng thời Ngài cũng là vị Vấn đạo sư về pháp luật. Trưởng lão Upāli đã từng được Ðức Phật tuyên dương trước đại chúng là đệ nhất về trí luật và đã thông thạo những điều giới luật Ðức Phật đã đặt ra, về thời gian, địa điểm và đối tượng phạm giới lúc Ngài còn sinh tiền, cho nên Ngài được chọn là vị đáp những câu hỏi của ngài Mahākassapa. Còn Trưởng lão Ānanda vốn đệ tử nhứt của Ðức Phật về hạnh đa văn, am tường những bài thuyết của Ðức Thế Tôn trong suốt 45 năm, do đó Chư Thánh Tăng chọn Ðại Ðức làm vị đáp về Kinh tạng lẫn Vi Diệu tạng.
c) Phương pháp kết tập
Trước tam vị tuyên ngôn xác định vai trò và vị trí của mình trong cuộc kết tập mà được Chư Thánh hiền tăng đã chọn lựa, ngài Mahākassapa lần lượt nêu từng điều luật tỉ mỉ và chi tiết như sau: "Này hiền giả Upāli! Nguyên nhân thế nào Thế Tôn cấm chế điều luật này? Ai phạm? Ðiều phụ chế của điều luật ấy thế nào? Thế nào là sự phạm tội trong những điều luật này?".
Ngài Upāli căn cứ trên những câu hỏi ấy mà đáp một cách rành mạch, theo thứ lớp. Mỗi câu trả lời của Ngài Upāli, Chư Thánh Tăng cùng tụng lại điều luật ấy. Nếu không thấy sự lầm lẫn gì trong câu đáp, các Ngài nhất trí nhau tuyên bố rằng đây là điều luật Thế Tôn cấm chế và ban hành. Áp dụng cách thức kết tập như vậy cho đến hết phần Luật tạng, và trong đại hội kết tập lần thứ nhất này phân Luật tạng ra làm năm phần lớn: Ādikamma, Pācittiya, Mahāvagga, Cullavagga, Parivāra.
Khi kết tập phần Kinh tạng, các Ngài nhất trí là bắt đầu bằng bài kinh Phạm Võng (Brahmajāla sutta). Ngài Mahākassapa vấn như sau: "Này hiền giả Ānanda! Nguyên nhân nào mà Thế Tôn thuyết bài kinh này? Ðịa điểm ở đâu? Ðối tượng thuyết giảng là ai? Nội dung của từng bài kinh là gì?"
Ðại Ðức Ānanda trả lời xong, rồi Chư Tăng bắt đầu cùng nhau tụng lại và xác nhận đây là lời của Thế Tôn. Cách thức như vậy cho đến phần Kinh tạng, đồng thời trong kỳ kết tập này các Ngài cũng phân ra năm bộ Nikàya. Cuộc kết tập này kéo dài bảy tháng mới hoàn thành.
Sau cuộc kết tập, Ðại Ðức Ānanda có bạch với Chư Thánh Tăng rằng lúc Như Lai sắp sửa viên tịch, Ngài có dạy: "Khi ta viên tịch các vị có thể bỏ bớt những giới học nào không quan trọng". Ngài Mahākassapa hỏi Ðại Ðức Ānanda học giới nào là không quan trọng, ngài Ānanda trả lời vì lúc Ðạo sư Níp-bàn, Ðại Ðức quá bận rộn nên không hỏi điều đó.
Ngài Mahākassapa với tư cách là chủ tọa liền tụng tuyên trước Chư Thánh Tăng như vầy:
- Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng: “Điều này là được phép đối với các sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.” Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: “Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.” Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng không nên quy định thêm điều chưa được quy định và không nên bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đây là lời đề nghị.
Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng: “Điều này là được phép đối với các sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.” Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: “Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.” Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định và không bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đại đức nào đồng ý việc không quy định thêm điều chưa được quy định, việc không bỏ đi điều đã được quy định, việc thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định và không bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.