Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Tâm tư Du học Tăng Việt Nam

Bất kỳ một du học tăng nào . khi học Phật tại các nước quốc giáo đều có những khó khăn chung . Phóng sự trực tuyến và trực tiếp này sẽ phần nào giải đáp thắc mắc của Chư Tăng trẻ . Ngưỡng mong thay!!!



Tâm tư Du học Tăng Việt Nam
( Bài Phỏng vấn trực tuyến Sư Định Phúc Samadhipunno qua mạng Facebook )
tại Đại học MahachulaLongkorn Rajavidyalaya (MCU), -Thailand)
Bài & ảnh: Chơn Minh



Thưa Sư với tư cách là một trong những du học Tăng đang theo học tại Đại Học MahachulaLongkorn Rajavidyalaya (MCU) xin sư chia sẻ cùng độc giả Tạp chí PGNT và các chư tăng trẻ Việt Nam muốn đi du học trong tương lai. Tất cả muốn hiểu về những trải nghiệm của một du học tăng học Phật tại nước ngoài mà điển hình là tại Thái Lan.

Câu hỏi phỏng vấn

1. PV: Xin Sư cho biết trước khi đi du học Thái thì du học tăng cần chuẩn bị những gì ?

Sư Định Phúc : khi dám quyết định xa xứ là mình phải chấp nhận một cuộc sống mới, Thái Lan là nước chọn Đạo Phật là quốc giáo, đa số theo truyền thống Phật Giáo Nam Truyền (Theravada), cho nên cần phải chuẩn bị cho mình những kiến thức về văn hóa ứng xử phù hợp với nếp sống của dân tộc Thái, những kiến thức về Phật Pháp cùng vốn tiếng Anh chuyên ngành và tiếng Anh trong giao tiếp hang ngày. Thời gian rảnh thì nên tìm hiểu đôi chút về tiếng Thái để nói chuyện với ngưới bản xứ. Ngoài ra nếu biết tiếng Thái thì dễ tìm tài liệu học hơn và một điều đặc biệt nữa là ngôn ngữ Pali rất cần thiết vì ngôn ngữ này sẽ theo tất cả sinh viên trong suốt những năm theo học tại trường mặc dù ở VN nói đến Pali là nói đến ngôn ngữ kinh điển dùng để tụng niệm. Điều quan trọng then chốt là cần phải chuẩn bị giấy tờ dịch sang tiếng Anh và công chứng đầy đủ ở VN để khỏi phải phiền phức và khó khăn sau này.

Những giấy tờ cần thiết là : bằng tốt nghiệp THPT (cho chương trình B.A), bằng Cử nhân (cho chương trình M.A), giấy chứng nhận xuất gia sa-di (nếu còn sa-di) hoặc tỳ-kheo (nếu đã thọ đại giới), giấy giới thiệu hay giấy bảo lãnh của vị trụ trì ngôi chùa mình đang trú, hình 3x4, passport và phải nộp kèm theo 1 tờ đơn xin đăng ký thi tuyển sinh (đơn này mua và nộp tại trường, thông thường khoảng tháng 3-4 tây lịch sẽ có thông báo tuyển sinh cho năm học mới).

Đại học MahachulaLongkorn Rajavidyalaya (MCU), -Thailand

2. PV: Để học tại Đại học Phật Giáo Thái thì du học tăng cần chuẩn bị như thế nào về mặt học tập và thi tuyển đầu vào ?

Sư Định phúc : Để có thể vào học tại trường này, các thí sinh phải trải qua 2 kỳ thi quan trọng đó là kỳ thi viết và kỳ thi vấn đáp.

Kỳ thi viết được tiến hành qua 2 buổi (chủ yếu là trắc nghiệm) :

- Buổi sáng : Anh văn Phật Giáo. - Buổi chiều : Anh văn thông thường.

khoảng 2-3 ngày sau thì các thí sinh tiếp tục trải qua kỳ thi vấn đáp do Hội đồng các giáo sư ở đây sát hạch.

Kết quả sẽ được thông báo và niêm yết tại trường và trên trang web chính của trường sau thời gian thi khoảng 1 tuần.

Sau khi đã trúng tuyển, sinh viên sẽ được thông báo đến làm thủ tục đăng ký nhập học và phải đóng một khoản học phí cho học kỳ đầu tiên là :

1. 6.000 bath (tương đương 200 usd) cho chương trình B.A

2. khoảng 15.000 Bath (tương đương 500 USD) cho chương trình M.A.



3. PV. Xin Sư cho biết những khó khăn mà du học tăng gặp phải khi học tại Đại học Mahachulalongkorn Rajavidyalaya ?

Sư Định phúc : Có những khó khăn sau :

1. Khó khăn thường gặp là vấn đề xin visa khi sang học tại trường. Đa số sinh viên du học tăng thường sang đây đăng ký nhập học, xin giấy tờ, đóng học phí thì mới có thể xin visa được, trong khi đó, quy định để được cấp visa là phải xin visa trước khi hết hạn 15 ngày. Thông thường visa du lịch chỉ cấp cho chúng ta có 4 tuần thôi, nếu không kịp thì chắc chắn phải ngồi xe sang biên giới Cambodia rồi nhập cảnh lại để tiếp tục được 4 tuần nữa. Đó là vấn đề khó khăn ban đầu mà đời sinh viên ai cũng phải trải qua.

2. Vấn đề khó khăn kế là chỗ ở. Mặc dù ĐH sẽ cấp KTX cho mình nhưng đa số các sư sang đây tu học thường muốn kiếm một ngôi chùa để xin lưu trú. Trong thời gian lưu trú sẽ ở sinh hoạt chung với chư Tăng Thái để tìm hiểu văn hóa và phong tục Thái, đó cũng là điều hay nhưng rất khó xin tá túc tại chùa ở Thái nếu không quen biết, tự đi xin thì không được vì không ai quen biết và không ai bảo lãnh.

3. Đối với Tu Sĩ theo Truyền thống Bắc Tông thì việc có được một chỗ ở ổn định để đi học hết sức khó khăn. Bởi lẽ, không như một số quốc gia khác, ở Thái lan việc Tu Sĩ thuê nhà trọ ở để đi học là một điều cấm kỵ. Sư Bắc Tông chỉ có thể đến xin ở một số ngôi chùa Việt nam. Đây là những ngôi chùa thuộc hệ phái Annamnikaya, một hệ phái Phật giáo kết hợp hai truyền thống Theravada và Mahayana do các vị tổ Việt Nam sáng lập trong những ngày đầu truyền đạo trên Đất Thái. Trải qua bao thế hệ truyền thừa, đến ngày hôm nay hệ phái ấy vẫn tiếp tục duy trì truyền thống của các Tổ Sư để lại dưới những ngôi chùa mà ngày nay người Thái vẫn quen gọi là Chùa Việt Nam. Gọi là Chùa Việt Nam nhưng thực ra đến nay tất cả đều do các Sư người Thái trụ trì và sinh hoạt theo truyền thống hệ phái Annamnikaya. Trong 7 ngôi chùa Việt tại Bangkok thì chỉ có duy nhất 2 chùa nhận Tu sĩ Việt Nam vào ở, đó là chùa Khánh Vân và chùa Báo Ân. Tuy nhiên, để xin được vào ở 2 ngôi chùa này cũng không phải là đơn giản mà phải có người quen biết giới thiệu và bảo lãnh.

4. Cuối cùng là khó khăn về tư liệu học tập vì có rất nhiều môn học (10 môn/học kỳ) nhưng giáo trình ở trường xuất bản chỉ toàn là tiếng Thái chứ không có tiếng Anh. Do vậy sinh viên nước ngoài sang học phải tự tìm kiếm tài liệu lấy hoặc là do giáo sư hướng dẫn cung cấp hay phổ biến.



4. PV: Trong chương trình học phật tại Đại học Maha trong những năm đầu thì môn học nào sư cảm thấy khó nhất? Sư khắc phục điều này như thế nào ?

Sư Định phúc : Hiện tại sư chỉ mới học được học kỳ đầu tiên (có tất cả 8 học kỳ cho 4 năm học) nên chưa biết những năm sau sẽ như thế nào. Nói riêng về học kỳ 1 này thì những môn khó nuốt nhất đối với bản thân chính là môn Economic in daily life (kinh tế trong đời sống hằng ngày) và môn Religions (tôn giáo học).

Vì với môn kinh tế sư chưa bao giờ học ở VN nên dường như rất lạ và đôi khi phải làm bài tập thì chẳng có được ý tưởng nào cho bài viết của mình. Thật sự mà nói, môn này cũng như là vài môn khác ở những năm sau không ảnh hưởng gì đến việc tu học cả nhưng đã là chương trình thì phải theo. Đó là điều khó khăn .

Quang cảnh các Du học Tăng trong giảng đường trường Đại Học MahachulaLongkorn
Đối với môn tôn giáo học cũng thế, và đặc biệt nhất ở môn này là vị giáo sư người Mỹ dạy nên việc phát âm của người bản xứ rất là khó nghe vì nghe không quen, thành ra không hiểu vị đó giảng về vấn đề gì. Cho nên, để theo kịp bài vở thì phải xem them tài liệu mà giáo sư gửi cho, phải tra từ, phải hiểu mới có thể viết bài cuối học kỳ được. và nhất là phải luyện tập kỹ năng nghe (Listening) tiếng anh.

5. PV: Xin sư cho biết lịch làm việc và học tập, tu tập, ngủ nghỉ của sư trong một ngày ?

Sư Định phúc : Thời gian ban đầu sang Thái học rất khó khăn và phải kham nhẫn rất nhiều đôi lúc cảm thấy việc tu hơi bị xao lãng nhưng phải chấp nhận vì mục tiêu mà mình đang theo đuổi. mình phải tập chấp nhận với cuộc sống mới.

* Sáng sớm 5h sáng là phải thức dậy vệ sinh cá nhân và soạn sách vở chuẩn bị đi học. ra khỏi chùa từ lúc 5h45 để đi bộ sang Wat Arun, từ Wat Arun này phải sang đò để qua bên kia sông Chao Phraya, sau khi qua đò thì đi bộ tiếp hoặc ngồi xe bus đi đến Sanam Luang (quảng trường chính) để lên xe, xe đưa rước sinh viên mỗi ngày sẽ đậu tại đây. Xe bắt đầu khởi hành chuyến đầu tiên từ 6h cho đến 7h30, mỗi ngày sẽ có 10 chuyến xe, cách 10 phút sẽ khởi hành 1 chuyến.ngồi xe khoảng 70km, hơn 1 tiếng đồng hồ sẽ đến trường. Lên trai đường dùng điểm tâm và lên lớp đến 9h sẽ bắt đầu vào tiết học. mỗi tiết học sẽ kéo dài 100 phút.

*Từ 9h học đến 10h40 là nghỉ trưa và dùng cơm. Vì trường học có số lượng khoảng 600-700 sinh viên, đa số là chư tăng nên trường thường có những gia đình phật tử đến làm phước cúng dường. dung cơm xong nghỉ trưa đến 12h30 sẽ bắt đầu học tiếp người thái cũng nhưng người phương tây không có khái niệm ngủ trưa như người Á Đông của mình.

12h30 bắt đầu tiết học thứ 2, kéo dài cho đến 14h10 thì nghỉ giải lao khoảng 10 phút. Tiết học thứ 3 bắt đầu từ 14h20 cho đến 16h là kết thúc.

Xuống sân lên xe trở về chùa. Vì số lượng sinh viên học rất đông nên đôi khi xe không đủ chổ ngồi phải đứng hoặc ngồi dưới sàn. Buổi chiều đường rất hay kẹt xe nên đôi khi xe về đến Bangkok cũng rất trễ. Riêng sư thì phải xuống giữa đường đón thêm 1 chuyến xe bus về thẳng chùa có khi đến 19h hoặc 19h30, thậm chí nhiều lúc kẹt xe còn đến gần 20h mới đến được chùa.

Cả ngày học và ngồi xe thôi cũng mệt rồi. về đến chùa vệ sinh cá nhân, tranh thủ xem bài vở, làm bài, tra từ điển hoặc làm bài tập rồi nghỉ ngơi để sang ngày mai tiếp tục cho cuộc hành trình mới mà không mới .

Tương lai thì chuẩn bị có phòng ở KTX thì sẽ không phải khổ nhọc đi về mỗi ngày nữa. 1 tuần học 4 ngày thì trú tại KTX 4 ngày, chỉ có 3 ngày cuối tuần là sư sẽ trở về chùa thôi.



6. PV: Xin sư cho biết mối quan hệ giữa chư tăng Việt Nam với nhau và mối quan hệ giữa chư tăng Việt Nam và chư tăng các nước bạn cùng học tại đây như thế nào?

Sư Định phúc :

- đối với chư tăng VN: các sư và các thầy rất vui vẻ, hòa đồng vì cùng là du học Tăng mà, nên ai có vấn đề gì là giúp đỡ nhau, chăm sóc nhau lúc bệnh hoạn hoặc khó khăn về bài vở.

- đối với chư tăng nước khác: học bên chương trình tiếng anh thì số lượng chư tang Myanmar sang học rất nhiều, còn lại là Sri lanka, Cambodia, ngoài ra có 1 số sư khác như là Cambodia và Lào thì chủ yếu sang học bằng tiếng Thái. Nói chung thì đều là tu sĩ với nhau, lại là cùng trường nên, nhất là thời sinh viên nữa thì rất vui vẻ. Vị thì muốn trau dồi thêm tiếng Thái, Vị thì muốn bổ sung thêm tiếng Anh và trong môi trường giao lưu quốc tế nên có thể học hỏi giao lưu thêm nhiều ngôn ngữ nữa nên rất vui và rất hòa đồng.



7. PV:Xin Sư cho biết những mặt hạn chế thực tế đối với du học Tăng Việt Nam tại Đại học MahachulaLongkorn Rajavidyalaya ?

Sư Định Phúc: Hạn chế của du học sinh Việt Nam chính là rào cản ngôn ngữ vì chúng ta ít sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống không như các nước khác nên mới sang đây học thì nghe và nói chuyện rất cứng miệng và khó khăn trong giao tiếp vì thế cho nên để việc học tại đây tốt đẹp lâu dài thì phải chuẩn bị vốn tiếng Anh giao tiếp và tiếng Anh Phật pháp cho vững.

ở Việt Nam mình tăng trẻ ít ai chịu chú trọng vào kinh điển pali nên sang đây học sẽ rất bỡ ngỡ. Thái Lan là đất nước phật giáo Nam Truyền, kinh điển đều học bằng ngôn ngữ Pali. Không chỉ thế, mà ngôn ngữ Thái lan cũng có sự tương đồng, hay nói khác hơn là mượn từ của văn học Pali rất nhiều. Chính bởi sự ảnh hưởng sâu sắc như vậy nên ngoài môn học Pali căn bản trong hầu hết các môn học, tất cả những thuật ngữ phật học đều sử dụng Pali. Nếu không được trang bị tốt về những thuật ngữ này chắc chắn người học sẽ gặp rất nhiều khó khăn để có thể nắm bắt và hiểu rõ được nội dung của bài giảng. do đó, ngoài việc trao dồi thêm tiếng anh là phải chú trọng việc học tiếng Pali thêm nữa.

Khi học với các Giáo Sư, tiếng Anh là ngôn ngữ bản địa, thì rất khó để chúng ta có thể hiểu hết nội dung bài giảng một cách trọn vẹn. Đây là khó khăn chung dường như phần lớn Tăng Ni sinh viên Việt Nam chúng ta gặp phải. Đến lớp không chỉ nghe giảng, mà mỗi môn học sinh viên đều phải có một buổi thuyết trình và sau đó viết assignment dưới một hình thức tổng hợp những gì mình được học để nộp lại cho Giáo sư. Bài thuyết trình cộng với assignment sẽ chiếm 2/3 tổng số điểm của mỗi môn học trong 1 học kỳ. Với những hình thức thực hành như vậy nếu khả năng nghe, nói và viết tiếng Anh của chúng ta còn hạn chế thì trong quá trình học mình sẽ gặp không ít khó khăn.



8. PV: Xin cho biết mối quan hệ giữa học viên và giảng viên như thế nào ?

Sư Định Phúc: Giảng viên rất thân thiện và vui vẻ. mặc dù khoảng cách giữa người cư sĩ với chư tăng ở Thái thì phải chấp hành nhưng các giảng viên rất thân thiện và sẵn sàng giúp đỡ sinh viên cũng như là giải đáp mọi thắc mắc về bài vở cho sinh viên nếu có chỗ nào chưa hiểu rõ. có những buổi sáng, giảng viên còn đem bánh, kẹo, sữa hoặc là trái cây vào lớp để cúng dường cho các sư nữa, vừa là vai trò vị giảng viên vừa là vai trò hộ độ cúng dường của 1 người phật tử. rất là hay.

9. PV: Sư kỳ vọng điều gì trong khi học và sau khi tốt nghiệp Đại học Maha ?

Sư Định Phúc :Kỳ vọng ư ??? (cười) Sư chẳng có gì để kỳ vọng đâu. Hiện tại chỉ cố gắng học theo khả năng của mình thôi và mong sao có đủ sức khỏe để theo hết chương trình cho được hoàn tất. Sau này tốt nghiệp hy vọng sẽ giúp sư phụ (TT. Giác Giới) trong công việc hoằng pháp, xem như là một phần của sự tri ân đối với sự dạy dỗ của sư phụ, cũng như là sự hộ độ, chăm sóc của những người thân trong gia đình và quý phật tử đã ủng hộ cho sư trong suốt thời gian tu học.

Sư Định Phúc đang là du học Tăng tại Thái Lan


10. PV: Sư có lời nhắn nhủ gì đối với các du học tăng Việt Nam trong tương lai ?

Sư Định Phúc : Nhắn nhủ thì không dám rồi, vì với vai trò của sư làm gì mà dám nhắn nhủ đến ai.(cười)

Chỉ mong sao các vị cố gắng tu học, dù ở bất cứ nơi đâu, dù ở nước nào, theo truyền thống nào, miễn có tâm học, có tâm tu thì hãy mạnh dạn. ở Việt Nam cũng được, ở Thái, Myanmar hay Sri lanka cũng được thậm chí học ở chùa cũng được nhưng phải học, học để biết cái mà mình chưa biết và củng cố thêm cái mà mình đã biết cũng như là loại bỏ đi những hiểu biết sai lầm nào mà mình đã mang theo. Và một điều nữa chính là ngôn ngữ pali, ngôn ngữ trong kinh điển của Nam truyền rất cần thiết và quan trọng cho việc duy trì giáo pháp cũng như là sự tu tập của mình. Nên việc học pali không phải là vô ích mà là rất quan trọng nên hy vọng rằng ở quê nhà sẽ có nhiều vị thông thạo pali, mở trường lớp dạy pali và cùng nghiên cứu về kinh pali. Sư tin một ngày nào đó Phật giáo Theravada sẽ được phát triển và giáo pháp sẽ không bị mai một.

Nhận Định chung:

Với bối cảnh là Đại học MahachulaLongkorn Rajavidyalaya (MCU)-Thailand cũng như tại Myanmar PV Tạp chí PGNT đã có dịp tiếp cận và trực tiếp phỏng vấn tại chỗ với Sư Chánh Lý (Viện Phật Học ở Mandalay), Sư cô Liên Hiếu (NCS/TS) tại Đại học International Theràvadà Buddhist Missionary (ITBMU), thì nhận thấy đây là những khó khăn chung mà bất kỳ du học tăng cũng gặp phải. Người viết hy vọng rằng các tăng trẻ như Sư Tịnh Đạt (theo học tại Sri lanka), Sư Tịnh Ý (theo học tại Myanmar) và Sư Tịnh Đạo (theo học tai Thái) đều vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt việc học Phật của bản thân đền đáp công ơn giáo dưỡng của sư phụ, của cha mẹ và lòng kỳ vọng của đàn na tín chủ bốn phương hữu duyên hỗ trợ việc học tập này của các vị.

Phật giáo Việt Nam có được phát triển tốt hơn một phần nhờ vào công lao học tập của chư Tăng Ni du học tăng đấy. Vui Thay!!


Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Cuộc Đời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


  • Cuộc đời của đức Phật Thích Ca - một con người vĩ đại - không chỉ được nói đến trong kinh điển mà còn được các hậu thế sau này thể hiện dưới nhiều hình thức nghệ thuật như phim ảnh, nhạc, điêu khắc, hội họa...
  •          

    Hình ảnh Thái tử Tất Đạt Đa mới sinh ra đời  và hình ảnh Đức Phật Cồ Đàm khi thành đạo


    Từ ngàn xưa...vương thành Catỳlavệ...

    Tịnh Phạn Vương và Hoàng hậu Ma-Gia trị vì xứ Nepal...thanh bình...mãi đến năm 50 tuổi mà Hoàng Hậu vẫn chưa có người nối dòng...

    Tất cả  mọi người và  chư thiên đều cầu xin Thái Tử ra đời .

    Một đêm, Hoàng Hậu  Magia mộng  thấy bạch tượng đem đến cho 1 đoá sen báo hiệu điềm lành ..và bà mang thai...

    Trên đường trở về nhà, đến vườn Lâmtỳni, một sớm mai mùa hạ, chim thi nhau trỗi giọng trên cành, hoa bừng nở khoe màu trên lá, tất cả hàng chư thiên từ các từng trời cũng hoan hỉ đến đón mừng giây phút thiên liêng:Hoàng hậu hạ sinh Thái tử, vừa ra đời ngài đã bước đi trên 7 đoá sen.

     Tịnh Phạn Vương xiết đỗi vui mừng, Ngài cho vời tất cả các nhà tiên tri & đạo sĩ đến để tiên đoán cho cuộc đời Thái Tử Tất Đạt Đa

    Từ đỉnh núi cao, nghe tin Thái tử ra đời, AtưĐà vội vã đi đến thành CatìlaVệ, đến nơi  vừa ngắm nhìn Thái Tử,  Đạo sĩ sụp lạy Thái Tử rồi khóc nưc nở ...Vua và Hoàng hậu kinh hãi hỏi dồn : _ Tại sao Đạo sĩ lại khóc, có chuyện gì không may cho Hoàng gia hoặc điều bất hạnh cho Thái Tử chăng ? _ Muôn tâu Hoàng Thượng, tôi khóc là tôi khóc cho tôi , vì tôi không còn sống được bao lâu nữa để được thọ giáo Thái Tử, đây là  bậc Giác ngộ, Ngài sẽ cứu cho nhân loại ra khỏi bể trầm luân, nếu xuất gia ngài sẽ thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu làm Vua, Ngài sẽ là bậc chuyển luân thánh vương...

    Thời niên thiếu niên , một hôm theo Phụ vương ra dự lễ canh điền, Ngài nhìn thấy con trâu cày mồ hôi nhễ nhại trên đồng lúa, con giun đất quằn quại dười lưỡi cày, con chim sà xuống gắp con giun bay đi ...tất cả đều trong vòng sinh tử ...Ngai tham thiền lần thứ nhất trong kiếp làm Thái Tử Tất Đạt Đa.

     Lớn lên Thái tử thông minh xuất chúng lạ thường, Ngài là một bậc văn võ song toàn độc nhất vô nhị, Ngài thắng cuộc trong buổi tranh tài để cưới Gia Du Đà La.

    Nhưng nỗi ưu tư vẫn luôn bên Ngài , Ngài ra ngoài thành chứng kiến những cảnh sinh, lão, bệnh, tử ..từ đó trong lòng Ngài luôn muốn tìm đường giải thoát khổ đau.

    Vua Tịnh Phạn nhớ lời đạo sĩ A Tư Đà, sợ ngài đi tu nên xây cho Ngài cung điện nguy nga với những lạc thú ngày đêm mong làm Thái tử vui lòng mà quên đi ý tưởng xuất gia .

    Một đêm nọ, nhìn những vũ nữ ngủ la liệt mệt mỏi sau những màn múa mua vui cho Ngài , Thái tử  khẳng định rằng lạc thú thế gian thật vô ích và Ngài càng nung nấu ý chí xuất gia ...  

    Ngài lẳng lặng từ biệt người vợ hiền và con thơ yêu dấu LahầuLa :_ em ơi , hạnh phúc này rồi cũng sẽ vơi,  ..tất cả rồi sẽ tàn phai theo năm tháng, đôi tay ngà kia rồi sẽ cằn cỗi như một cành khô, mắt long lanh ngày nào rồi cũng mờ dần theo thời gian , không vì hạnh phúc của riêng ta mà quên đi nhân loại..em ơi ta ra đi vì hạnh phúc của chúng sanh...

    Ngài lặng lẽ thắng ngựa Kiền Trắc rồi cùng SaNặc phi nhanh trong im vắng ...Đêm đến đã lâu rồi..Ngài đã chọn đường đi ..đường từ bi ..Nguyện từ nay dấn thân trong cát bụi vì đạo thiêng...Ngài ra đi lúc 19 tuổi, ngày rằm tháng hai vào lúc giữa đêm.

    Đến  bên dòng sông ANôma dậy sóng , nhưng không một cơn sóng nào mãnh liệt hơn ý chí xuất gia của Ngài , Dòng Anôma..sóng nhấp nhô ..nhìn dòng nước biếc Thích Ca Ngài lòng vững bền ..Ngài dịu dàng bảo Sanặc " thôi con hãy về để ta đi tìm đạo giải thoát chúng sanh" Tại  nơi đây.. Ngài cắt tóc xuất gia ...

    Với thệ nguyện, thân ta dù chỉ còn da bọc xương ,ta vẫn  quyết đi tìm đạo giải thoát ...Sau 6 năm khổ hạnh ở rừng Ưu lâu tần loa xứ Phật đà già da (Bouddhagaya), học nhiều vị đạo sĩ nhưng Ngài nhận thấy đó không phải là con đường giải thoát.

    Dưới cội cây Bồ Đề bên giòng sông Ni Liên Thuyền, sau khi Ngài thọ nhận bát cháo sữa cúng dường đầu tiên của nàng Tu xà đề Sujata..Ngài  cảm thấy khỏe khoắn và nhận ra rằng trung đạo là con đường giải thoát.

    Thả bát xuống sông Ngài nguyện chứng giải thoát

    Bao nhiêu Ma Vương đến phá Ngài bằng mọi cách từ doạ dẫm đến quyến rũ..

    .

    Bằng sự tinh tấn ba la mật, Ngài hàng phục ma vương...

    Đầu đêm, Ngài chứng được Túc mạng minh, thấy rõ ràng những đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nửa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy được cả vũ trụ bao la; Cuối đêm vào lúc sao mai mọc, Ngài chứng được Lậu tận minh, nhận chân nguồn gốc sanh tử luân hồi là sự mê mờ gọi là vô minh, Rạng ngày rằm tháng 4 Đức Phật Thích Ca thành đạo, Ngài chứng ngộ Giải thoát.

    Đức phật thuyết pháp,  các hàng tứ chúng ở tam thiên đại Thiên thế giới đều  hoan hỷ và chăm chú lắng nghe ..bỗng mây đen vần vũ kéo đến , sấm chớp liên hồi những cơn giông ồ ạt trút xuống..một con rồng to lớn dị thường hiện lên ai nấy đều kinh sợ...đó là Rồng Đại long Vương hiện lên làm mái vòm che chở cho Ngài..kỳ diệu thay ! Đức Phật vẫn điềm nhiên thuyết pháp.

       

    Ma vương tham ái vẫn tiếp tục hiện lên để cám dỗ ngài...nhưng vô hiệu!!!

    Ngài thuyết giảng Tứ diệu đế  ( khổ ,tập ,diệt, đạo) cho 5 anh em Kiều Trần Như.

    Ngày rằm tháng 6  tại Kỳ Đà Cấp Cô độc viên, Đức Phật truyền giới cho 1250 vị Thiện Lai tỳ khưu. Không làm điều ác, thực hiện các hạnh lành, giữ tâm ý trong, đó là lời Chư Phât dạy
    ( Kinh Pháp Cú ).

    Sau bao nhiêu năm, Đức Phật trở về thăm lại thành Catìlavệ  và  hoàng cung xưa...

    Cinja vu oan cho  Đức Phật...

    Cho phép Lahaula xuât gia.

    Ma vương luôn phá ngài bằng tâm tham ái.

    Về thăm và vấn an Tịnh Phạn vương  lần cuối.

    Chấp nhận cho Di mẫu xuất gia và cùng lúc Ngài cho phép người Nữ được xuất gia.

     

    Đức Phật trở về Hoàng Cung độ cho dòng Thích Ca đi xuất gia, cùng lúc Ngài cũng thuyết về ba la mật tại cung trời Đao Lợi cho các hàng Phạm Thiên ...

    Trước khi nhập niết bàn Đức Phật giảng về Lễ thọ đầu đà theo lời thỉnh cầu của Ngài Anan sau khi dùng bát cháo nấm - bữa thọ thực cuối cùng.

    Đức Phật nhập niết bàn.

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

VẪN CÒN NHỮNG BUỔI CHIỀU XƯA



Kính viếng Giác linh cố Đại Lão Hòa Thượng thượng MINH hạ CHÂU.
Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

Nay đã trót ba mươi lăm (35) mùa thu đi qua kể từ khi Hòa Thượng mở lớp chuyên khoa KINH TRUNG BỘ ( Hệ tư tưởng Pàli) tại Thiền Viện Vạn Hạnh, Q. Phú Nhuận, Tp. Hồ chí Minh. Bấy giờ còn là những năm tháng giao thời của đất nước, xã hội bên ngoài hãy còn nhiều nỗi lo toan, còn bên trong các Tự viện Tăng Ni thì phần lớn sống tu khép mình lặng lẽ dõi theo vận mệnh chuyển mình cho một hướng đi mới của dân tộc.Đứng trước bao nhiêu sự việc còn mất, vui buồn, được thua.v.v... của dòng chảy thời gian. Nhưng với đại nguyện ươm mầm cho thế hệ Tăng Ni trẻ hiện tại và mai sau, vẫn thôi thúc những ước mong của Hòa Thượng thực hiện tiếp tục (sau Đại Học Vạn Hạnh ) cho nền văn hóa và giáo dục Phật Giáo nước nhà, thắp sáng ngọn đuốc "truyền đăng tục diệm" tự ngàn xưa.

Chúng con bấy giờ còn trẻ lắm, vào mỗi tuần 3 buổi chiều vẫn cuốc bộ từ khu vực Bà Chiểu đến Thiền Viện Vạnh Hạnh đoạn đường khá xa, nhưng cũng chóng kịp thời gian dự lớp, lớp học nầy độ khoảng 30 vị Tăng Ni, hiện nay số vị còn lại không bao nhiêu, phần ra đi về mọi phía trời xa, phần thì vĩnh viễn không còn gặp lại nữa. Dù thời gian có qua đi như thế nào, những lời giảng dạy của Hòa Thượng, những bụi phấn mà Hòa Thượng đã viết lên bảng vẫn còn bay theo những bước đời du hóa của từng lớp Tăng Ni, những nhà tín tâm Phật Giáo và xuất thân từ Đại Học Vạn Hạnh cũng như các trường Phật Học bấy giờ khi đã thụ huấn giáo lý Phật qua sự giới thiệu trầm hùng sâu lắng của Hòa Thượng.

Rồi chiều nay, như bao buổi chiều trước đây tại giảng đường, Hòa Thượng vẫn ung dung một dáng đứng kiên trụ trên bụt giảng với đề tài " ĐẠI KINH RỪNG SỪNG BÒ" bài kinh thứ 32 thuộc Trung Bộ I được giới thiệu đến. Trong giới học Tăng Ni và bản thân con nói riêng, cảm nghe một luồng sinh khí chánh pháp như được thổi đến từ thời Phật Tăng xưa, nhất là chư Tôn giả ưu việt của Phật như: Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Na Luật Dà, Tôn giả Ly Bà Da và Tôn giả A Nan Da, hiện tại lạc trú nơi khu vườn trong rừng Gosinga.

Để mở tung ra về cõi thênh thang phương hồng diệu lực từ nơi Pháp và Luật của Phật "Đến đề mà THẤY, đến để mà NGHE..." mở đầu cuộc pháp thoại trầm hùng nầy, Tôn giả Xá Lợi Phất đã khởi xướng : " Nầy Hiền giả Ananda, khả ái thay khu rừng Gosinga, đêm rằm sáng trăng, cây sala trổ bông cùng khắp, hương trời như tỏa rộng khắp nơi. Nầy Hiền giả Ananda, hạng Tỷ kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga ? "

Khi câu hỏi của vị tướng quân chánh pháp, vị đại tuệ giải thoát (Xá Lợi Phất), Tôn giả Ananda đã tuần tự trình bày sự kiến giải, sự tu tập chánh quán của mình : " Ở đây, nầy Hiền giả Sariputta, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh... được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát, vị ấy thuyết pháp cho 4 hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát với mục đích đoạn trừ mọi TÙY MIÊN. Nầy Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ Kheo nầy có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga !"

Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

Mặc dù toàn phần nội dung kinh đã trình bày 6 kiến giải  qua 6 vị Tôn giả đại đệ tử của Phật, thế nhưng con xin phépđược dừng lại ngay sau câu trả lời của Tôn giả Ananda. Theo thiển kiến của con nghĩ rằng : Giữa thế đời hôm nay,đã lắm nỗi sầu ưu khổ lụy, đã lắm nỗi ngược xuôi theo dòng cảm xúc tử sinh, DANH và SẮC, ÁI và HỮU vẫncó nhiều đánh bóng, sự chấp nhận cảm nghe nhiều hơn là sự từ bỏ, sự viễn ly. Vì vậy, bản thân con thấy rằng :nếu nghe nhiều về như lý chánh pháp và biết kiên định tín tâm gìn giữ, tích tụ, khéo tư duy, khéo quán sát những ý pháp đã được nghe, hầu hoàn thiện một đời sống phạm hạnh đưa đến thanh tịnh với mục đích đoạn trừ mọi tồn đọng của Tùy Miên chìm nổi theo dòng trầm luân, để rồi cuối cùng, Đức Phật có một lời dạy vừa là xác chứng, vừa là tổng hợp qua lời trình bày ý pháp của chư Tôn giả đệ tử : " Ta sẽ không bỏ ngồi kiết già cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các LẬU HOẶC, không có chấp thủ ".

Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

Bài kinh nầy đã được Hòa thượng giảng giải cách đây 35 năm, 35 năm đã trôi xa, 35 năm không ít sự biến đổi của trò dâu bể, 35 năm Phật giáo nước nhà ít nhiều đi qua những bước thử thách về phía trước và cùng đồng hành vói những bước đi của dân tộc Việt Nam. Thế rồi chiều nay, được tin Hòa Thượng đã viên tịch, đã thật sự rũ bỏ thân 5 uẩn nầy, dù nay Hòa Thượng không còn hiện diện trong cuộc đời như xưa, nhưng Đại Tạng Pali mà Hòa thượng đã dịch, những Tăng Ni sinh và môn đồ đã được Hòa Thượng huấn thị, mái Chùa Thiền Viện Vạn Hạnh, Học Viện Phật Giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu và Dịch thuật Phật Giáo Việt Nam vẫn mãi mãi còn đó, vẫn mãi mãi thắp sáng chánh pháp, vẫn mãi mãi tiếp nối sự nghiệp Giáo dục Phật học như chính tâm nguyện của Hòa thượng đã gần một đời theo đuổi.

Nghiễm nhiên những điều ấy, những thành tựu ấy... Hòa thượng đã làm chói sáng như chư Tôn giả đại đệ tử của Đức Phật khi xưa, hay chư lịch đại Tổ Sư ở hai phương trời ẤN - HOA đã thắp sáng, chói sáng khu rừng Gosinga, dù nay đã trải qua trên 2.500 năm sau thời Phật và Thánh đệ tử, nhưng rừng Gosinga vẫn được thắp sáng muôn trùng trên vạn nẻo đường du hóa của chư Tỷ Kheo và trên mọi không gian an tịnh lạc trú của những nhười đệ tử Phật. Vì nơi ấy có sự tu tập, có hướng tâm chánh pháp, có hiện tại lạc trú, có mang lại lợi ích lâu dài cho chúng sanh chư thiên và loài người, thì chính nơi đó dù mãi mãi ngàn sau vẫn là sự thắp sáng, chói sáng khu rừng Gosinga, mà nay Hòa thượng đã làm được điều đó.
THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM GIÁC LINH HÒA THƯỢNG.

Long Xuyên, cuối mùa Vu Lan PL.2556 - DL. 2012.

TUỆ NHƯ ( MẶC PHƯƠNG TỬ)
Kính bái.

Lời Khuyên Vô Giá Của HT Minh Châu Về Chánh Tín


Chính kinh Đại Bát Niết Bàn, trang 124- 126, tập III có ghi rằng, dù chúng ta có nghe vị Tỳ-kheo nào nói tự thân nghe Đức Phật, tự thân nghe các vị Thượng Tọa, Thủ chúng v.v... nói như vậy là pháp, như vậy là luật, Đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đả kích, chấp thuận hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với kinh, đối chiếu với luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ. Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu suy tư. Khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thủy nhất hay gần nguyên thủy nhất của Đức Phật.

Kính thưa quý vị!
   Trong Ngũ lực, gồm Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lực thì Tín lực là hàng đầu, là cửa ngõ để đạt được các lực theo sau. Tín lực không phải là sự tin tưởng vào những giáo điều, giáo pháp một cách mù quáng, ồ ạt và thiếu xét đoán mà dẫn đến việc làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sanh. Tín lực là lòng tin sâu sắc và mạnh mẽ đối với Chánh Pháp của đức Phật Thích Ca, là lòng tin chân chánh, là chớ có vội tin mà hãy đến để mà thấy và tự mình chứng nghiệm, như đức Phật từng dạy: "Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau: Các pháp này bất thiện, Các pháp này là có tội lỗi, Các pháp này bị người có trí chỉ trích, Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau. Thời này, Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng không nên tin theo”.
  Chính vì thế, từng ngày giờ chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ những điều mà không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ tất cả chúng sanh thì ngay đó chúng ta đã cảm nhận được sự thanh thản, an lạc, đã có Chánh Tín và cũng chính là đang hành đúng theo nền đạo đức nhân bản - nhân quả do đức Như Lai là người đầu tiên tuyên thuyết. Nói không làm khổ mình, khổ người không có nghĩa là chúng ta cứ làm ngơ trước những điều sai trái của người khác. Chính trong thời xưa đức Phật Thích Ca đã không ít lần đập mạnh, chỉ thẳng cái sai của 62 luận thuyết tà kiến ngoại đạo (trong Kinh Phạm Võng, Trường Bộ Kinh). Quả là " bậc A La Hán ra đời như cánh chim trời, tung bay khắp mọi nơi khiến cho vũ trụ rung chuyển, những tư tưởng mê tín, dị đoan, lạc hậu của loài người bị đảo lộn, không còn đứng vững, rơi rụng như những chiếc lá vàng mùa thu".
   Có vị Thầy mạnh dạn chỉ ra cái sai trong Phật Giáo hơn 2500 năm nay kể từ khi đức Phật và cuối cùng là ngài Ananda nhập diệt để giúp biết bao người tránh lầm đường lạc lối trên con đường tu tập của mình. Nếu chúng ta nghĩ rằng vị ấy làm khổ người, nói xấu người khác, không có ái ngữ thì đó là cách hiểu sai, phiến diện phát sanh do kiến thủ. Đức Phật có dạy trong Kinh Pháp Cú, phần VI - Phẩm Hiền Trí:
                    “Nếu gặp bậc hiền trí
                      Chỉ lỗi và khiển trách
                      Như chỉ chỗ chôn vàng
                      Hãy kết thân người trí
                      Kết thân với vị ấy
                      Chỉ có lợi không hại”
    Biết nương theo những lời chỉ dạy của bậc hiền trí, bậc thiện hữu tri thức thì chúng ta sẽ không còn chấp thủ vào cái sai của mình, tự mình cởi trói cho bản thân khỏi cái kiến giải, tưởng giải từ bao đời nay. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy về lòng tin chân chánh:
  

   “Này các Kàlàmà! Chớ vội tin vì nghe truyền thuyết, Chớ vội tin vì nghe truyền thống, Chớ vội tin vì nghe người ta nói đồn, Chớ vội tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, Chớ vội tin vì nhân lý luận siêu hình, Chớ vội tin vì đúng theo một lập trường, Chớ vội tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện, Chớ vội tin vì phù hợp với định kiến của mình, Chớ vội tin nơi xuất phát có uy quyền, Chớ vội tin vì bậc Sa Môn là đạo sư của mình v.v..
   Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này bất thiện, Các pháp này là có tội lỗi, Các pháp này bị người có trí chỉ trích, Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”.
   Thời này, Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng không nên tin theo”.
   Trên con đường tìm cầu đạo giải thoát thì cũng có lúc chúng ta đứng giữa ngã ba ngã bảy trong khi lối đi đến tiếp cận chân lý thì chỉ có một: đó chính là Bát Chánh Đạo. Cái ngã ba ngã bảy ấy tượng trưng cho một rừng Kinh sách được cho là của Phật thuyết mà sự thực thời còn tại thế Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thuyết pháp nhiều đến đâu thì cũng chỉ xoay quanh Tứ Diệu Đế, Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo, pháp Như Lý Tác Ý và Thân Hành Niệm.
    Tiếp theo, Tâm Thuận xin trích dẫn những lời khuyên vô giá của Hòa Thượng Thích Minh Châu về Chánh tín dành cho tất cả những ai đã, đang và sẽ tìm đến với Phật pháp. Phần trích dẫn này nằm trong sách “Chánh Pháp Và Hạnh Phúc” và Lời giới thiệu Kinh Trung Bộ bản in năm 1986:


1)         Sách Chánh Pháp và Hạnh Phúc, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo (2001), trang 238-246:
  
   “Cho dịch và cho in các bản kinh Pàli, chúng tôi không mong muốn gì hơn là để các phật tử, các học giả, các sinh viên được đọc thẳng vào kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, và sự tự mình tìm hiểu những lời dạy thật sự của Đức Phật, khỏi phải qua những lập trường của các bộ phái. Nhất là khỏi phải qua những xuyên tạc của những học giả và những phật tử muốn giải thích đạo Phật theo dục vọng và tà kiến của mình.

   Muốn chạy theo dục vọng thì giải thích kinh điển một cách dễ hiểu rằng đạo Phật chấp nhận và tha thứ dục vọng. Muốn giết người và muốn bênh vực kẻ giết người, đạo Phật được giải thích như là có thể tha thứ và chấp nhận sự giết người. Muốn chạy theo tà giáo và tà kiến, lại giải thích đạo Phật viên dung vô ngại, chấp nhận mọi tà kiến, mọi tà thuyết. Tà kiến nào, tà thuyết nào cũng là Phật giáo được hết!
   Muốn tránh những tai nạn trên, cần nhất là phổ biến những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để phật tử được đọc thẳng ngay kinh Phật, khỏi qua một ống kính màu nào. Đạo Phật cần những cá nhân Phật tử biết suy tư, biết phân tích, biết tự tìm hiểu rồi xác nhận sự hiểu biết của mình, ngang qua sự hành trì, kinh nghiệm cá nhân. Đạo Phật Không cần đến những đoàn người theo đạo Phật, theo một cách ồ ạt mù quáng, theo một cách thụ động nhắm mắt, hay tự mình bóp méo xuyên tạc đạo Phật theo tà kiến dục vọng của mình.
   Chính kinh Đại Bát Niết Bàn, trang 124- 126, tập III có ghi rằng, dù chúng ta có nghe vị Tỳ-kheo nào nói tự thân nghe Đức Phật, tự thân nghe các vị Thượng Tọa, Thủ chúng v.v... nói như vậy là pháp, như vậy là luật, Đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đả kích, chấp thuận hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với kinh, đối chiếu với luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ. Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu suy tư. Khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thủy nhất hay gần nguyên thủy nhất của Đức Phật.

   Chúng tôi dịch kinh Pàli, không vì mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn giới thiệu những kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu lời dạy chân chính của Đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dù Ấn Độ, Trung Hoa, hay Việt Nam.

   Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là nguyên thủy, đoạn nào không phải nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy, chứ không phải đạo đến để nhờ người thấy hộ, đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải đạo của người nhắm mắt, đạo của người thấy, của người biết (Passato Ajànato), không phải là đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.
   Thật sự chúng tôi chỉ mong rằng quý vị đọc thật kỹ và suy tư thật chín chắn những đoạn mà chúng tôi phiên dịch rồi quý vị hãy tự hỏi, những đoạn ấy có phải là những đoạn “Tiểu thừa” dành riêng cho những vị có tiểu tâm, chỉ tư lợi không biết vị tha, chỉ biết tự giác không biết giác tha. Như chúng tôi đã phân tích trong lời giới thiệu bản dịch tập “Đại Thừa Và Sự Liên Hệ Với Tiểu Thừa.” Chúng ta đừng có mắc bẫy các vị Bà La Môn Ấn Độ giáo tìm cách gán cho chữ “Tiểu Thừa” để loại ra ngoài những lời Phật dạy căn bản, như một số phật tử Đại thừa đã bị mê hoặc, không dám đọc những lời Phật vì bị gán nhãn hiệu Tiểu Thừa.

   Bên phái Nam tông, tuy tôn thờ Tam Tạng Pàli, nhưng một số phật tử cũng rơi vào nạn tương tự, là chỉ học luật tạng và A Ty Đàm tạng, bỏ rơi Kinh tạng Pàli, vì xem A Ty Đàm tạng mới đề cập đến Đệ Nhất Nghĩa Đế, còn kinh tạng chỉ bàn đến Tục Đế mà thôi. Đây cũng là một lầm lạc hết sức ngây thơ và nguy hiểm. Vì A Ty Đàm phát xuất từ kinh tạng, và bỏ để tìm ngọn thì không khác gì kẻ đi tìm lõi cây, mà chỉ mang về cành lá.

   Thật sự đạo Phật đâu có phân biệt Tiểu Thừa và Đại Thừa, đâu có chia đôi Chân đế, Tục đế. Những sự phân chia này chỉ là hậu tác phẩm, hoặc của giáo sĩ Bà La Môn mang danh phật tử muốn loại bỏ những gì tinh túy nhất của đạo Phật không cho phật tử học và tu, hay của một số đệ tử Phật muốn làm Tổ sư một giáo phái nên đề xướng các chủ thuyết lấn át những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.

   Thật sự chúng ta chỉ có một trách nhiệm tìm đọc và tìm hiểu những lời dạy thật sự là những lời dạy của Đức Phật, và vì trách nhiệm ấy mà chúng tôi đang cố gắng phiên dịch kinh tạng Pàli ra Việt ngữ. Chúng ta chỉ cần đọc, cần suy tư chín chắn và rồi chính chúng ta tự ý thức đâu là những lời dạy trung thực của đức Bổn Sư chúng ta.

   Đây là sự đóng góp của Viện Đại Học Vạn Hạnh vào nền văn hóa Phật giáo bằng cách giới thiệu một cách đầy đủ và trung thực những tài liệu tiếng Việt quý báu nhất về kinh tạng Pàli, vừa cho các phật tử tìm hiểu, thực hành và thực chứng, vừa giúp các học giả Phật giáo có những tài liệu tham khảo khá đầy đủ và trung thực.

   Viện Đại Học Vạn Hạnh là môi trường đầu tiên nếu không phải là độc nhất, đã cố gắng giới thiệu kinh tạng Pàli cho phật tử Việt Nam, học giả Việt Nam, dân chúng Việt Nam.

   Viện Đại Học Vạn Hạnh cũng đi tiên phong mở đường cho một cao trào nghiên cứu đi thẳng vào lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, khỏi bị những lệch lạc của học phái hay của Bà La Môn giáo. Điều quan trọng hơn nữa, Viện Đại Học Vạn Hạnh khuyến khích các học giả và các phật tử tự mình mở mắt tìm hiểu, suy tư đối chiếu, không có nhắm mắt tin theo, không có thụ động chấp nhận, trái lại phải biết thâu hóa, so sánh, để làm sáng tỏ những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.”…

2)         Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ (Trong Bản In Năm 1986):

   “Gần chúng ta hơn, Kinh Trung Bộ này đã nằm trong chương trình học của Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, và Tăng Ni Sinh cần có Kinh sách để học hỏi nghiên cứu, cho nên cho in lại Kinh Trung Bộ là đáp ứng nhu cầu cấp bách này. Ngoài ra Kinh Trung Bộ đang được nhiều nhà học giả, nhiều Phật tử nghiên cứu và tìm hiểu, vì chúng ta có thể nói Kinh Trung Bộ không những là cốt lõi trong Kinh Tạng Pàli mà còn diễn đạt rất súc tích và đầy đủ những định nghĩa căn bản các danh từ đạo Phật và còn diễn đạt rất phong phú và đa dạng những pháp môn tu tập đưa đến Niết bàn. Chưa học Kinh Trung Bộ là chưa nắm được tinh hoa của Đạo Phật nguyên thủy. Chưa nghiên cứu Kinh Trung Bộ rất có thể rơi vào những lệch lạc định nghĩa các danh từ chuyên môn trong đạo Phật mà Đức Phật đã dày công định nghĩa, mỗi khi Ngài thuyết giảng giáo lý của Ngài.
   Chúng tôi chỉ có thể nói một cách vắn tắt là Kinh Trung Bộ đặt nặng về phần Chánh Tri Kiến và các phương pháp tu hành, nhất là những tiến trình tu chứng đi từ Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến. Còn Kinh Trường Bộ đặt nặng phần lịch sử, có tánh cách đối ngoại đối với Bà La Môn, du sĩ ngoại đạo, Kỳ na giáo... Tăng Chi Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo pháp số từ số 1 đến số 11. Tương Ưng Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo đề tài. Còn đọc Kinh Trung Bộ chúng ta đi sâu vào phần giáo lý và phần hành trì, đặt nặng về những phản ứng tâm lý tế nhị của người tu hành khi đạt đến những quả vị tối cao.
   Công trình phiên dịch của tôi, một mặt đáp ứng sở nguyện xuất dương tu học của tôi, một mặt xây dựng những tài liệu nghiên cứu đạo Phật cho các Học giả và Phật tử Việt Nam. Lẽ dĩ nhiên trong trách nhiệm
hiện tại của tôi, sự phiên dịch đòi hỏi nhiều cố gắng, nhiều dụng công kiên trì và liên tục, nhưng chúng tôi đã được tưởng thưởng xứng đáng, khi được tận hưởng những Pháp Lạc do Chánh Pháp đem lại trong
khi phiên dịch. Pháp Lạc này ẩn chứa trong từng chữ từng câu, tiềm tàng trong từng câu văn giọng nói, và chính Pháp Lạc đã nuôi dưỡng và khích lệ chúng tôi rất nhiều trong công tác phiên dịch này.
   Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch.
   Có người than kinh Pàli quá dài và có nhiều đoạn trùng điệp. Khi dịch Kinh, bao giờ tôi cũng phải kính trọng nguyên bản, và vì vậy chúng tôi không có thể tự ý lược bỏ những đoạn trùng điệp, dầu rằng nguyên bản Pàli chúng tôi phiên dịch cũng đã lược bỏ khá nhiều. Điều chúng ta nên nhớ là phần lớn Kinh điển được kiết tập trong các Đại hội Kiết tập và đều do chư Tăng tụng đọc lại những đoạn các vị ấy đã ghi nhớ, và lẽ dĩ nhiên khi tụng đọc không bao giờ có chuyện lược bỏ. Lại nữa đức Phật trong khi đi truyền giáo, mỗi Kinh đều được giảng trọn vẹn trong mỗi hoàn cảnh đặc biệt và chư Tăng ghi nhớ lại không bao giờ dám lược bỏ các đoạn đã được nghe. Do đó, có nhiều đoạn trùng điệp, khó lòng lược bỏ cho được. Dầu thế nào, các đoạn trùng điệp vẫn có sự tác dụng cho người đọc, vì không gì tốt đẹp hơn là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần những giáo lý quan trọng và những pháp tu căn bản.
   Chúng tôi nay chỉ chú trọng phiên dịch, và mong dịch cho được chu toàn và đầy đủ, để làm tài liệu nghiên cứu và tu học cho các Phật tử và Học giả, chưa có một nhận xét, phê bình, so sánh đối chiếu gì. Mỗi bộ Kinh được dịch xong là những nguồn tài liệu văn hóa hết sức phong phú và quý giá cho các Học giả và các Phật tử, và hiện tại sự cố gắng duy nhất của chúng tôi là cung cấp những tài liệu văn hóa ấy. Cho nên, với 5 bộ Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tăng Chi, Kinh Tương Ưng, Kinh Tiểu Bộ, chúng tôi nghĩ là giới thiệu được những tài liệu khá chính xác và đầy đủ để các nhà Học giả, Tăng Ni Phật tử, Sinh viên đi sâu được vào những Giáo lý và Giáo pháp căn bản, thật sự là nguyên thủy của Đạo Phật.”

   Cuối cùng, để thay cho lời kết, Tâm Thuận xin trích dẫn lời di chúc của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã ban bố trước khi ngài diệt độ, và lời di chúc vô giá này sẽ còn sống động mãi cho đến khi con người hết khổ:
   “Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Đạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Đạo sư (giáo chủ)”. Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Đạo Sư của các Ngươi.” “Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.” (Kinh Trường Bộ, bài Kinh Đại Niết Bàn).
                                           *** HẾT ***
Người viết: Tâm Thuần, Phường Hà Huy Tập, T.P Vinh, Nghệ An