Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

NỢ... (Virian Nguyen)




Trót vương chút nợ vai gầy
Chiều nay quên hết ta say bên đường
Cực lòng chỉ một chút thương
Gặp nhau vương nợ, thôi... dường nhân duyên
Mỏi mòn với chút nỗi riêng
Bỏ rơi Pháp ấn để lòng sư say
Lụy đời dám nhớ Như Lai
Rối reng chi một bước hài ác ma!

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

16 ĐIỀM MỘNG VUA PASENADI (Phong Vũ)



Vua nằm mộng thấy điềm sao kỳ lạ
Khi tỉnh dậy chợt cảm thấy hãi kinh
Sợ chuyện hung sẽ xảy đến với mình
Nên ban lệnh lập đàn cầu tế lễ.

Mallikā ái hậu nghe lời kể
Khuyên vua ngài nên bỏ lệnh sát sanh
Đến hầu Phật thuyết trình rõ ngọn ngành
Nghe Thế Tôn ban lời khuyên đáp giải.

1. Bốn bò đực đen tuyền từ bốn ải
Chúng đua nhau chạy đến trước sân chầu
Gầm thét lớn nhưng rồi lại quay đầu
Chúng bỏ đi khi mọi người quần tụ.

Hỡi đại vương mộng này sẽ thành tựu
Ở thời kỳ khi Giáo Pháp chẳng còn
Dân khốn đốn hoa màu phải héo hon
Trời sấm chớp nhưng mưa lành chẳng thấy.

2. Bụi cây con từ dưới đất sinh nẩy
Mới lên cao có vài tấc chẳng sai
Mà hoa trái đơm cành rất trĩu sai
Như cổ thụ lâu ngày dài năm tháng.

Khi nhân loại bước vào thời yểu mạng
Lại đua đòi trong những việc gái trai
Còn nớt non những đã phải mang thai
Đâu còn biết kỷ cương và đạo lẽ.

3. Rồi trẫm thấy có những con bò mẹ
Lại xúm vào xin bú sữa bò con
Bê hung hăng như chẳng phải là con
Làm con mẹ lo âu và sợ sệt.

Vào thời kỳ đạo đức suy rõ rệt
Bậc mẹ cha sẽ chẳng được kính tôn
Người già cả phải phục cả cháu tôn
Vì cuộc sống mà phục tùng con cháu.

4. Bò lực lưỡng thì dây ràng đã tháo
Đám bò con sao lại bắt kéo xe
Không đủ sức nên chúng đứng im re
Chẳng nhúc nhích khiến đường không đi được.

Đến thời kỳ quan quân đều ngỗ ngược
Bậc Thánh hiền sao chẳng được nêu danh
Người đức trọng trong tay chẳng quyền hành
Đành bỏ mặc xuôi tay về quy ẩn.

5. Có ngựa kia hai bên đều có miệng
Đưa cỏ vào cả hai miệng đều nhai
Ngựa nhai cỏ sao mà rất khoan thai
Chẳng sợ sệt cả hai đều làm việc.

Có thời kỳ vua quan đều ngu miệt
Bọn chánh tòa hối lộ chẳng cần chi
Lũ tham lam pháp luật đã tàn suy
Hại dân nước cảnh lầm than khốn khổ.

6. Rồi nhân gian họ hùa nhau xô đổ
Lấy mâm vàng đem đựng vật uế nhơ
Của chó kia đại tiểu đã làm ngơ
Người lụm lấy mâm vàng đem chưng cất.

Vào thời kỳ mâm vàng đem đựng cứt
Đó là thời đảo ngược chuyện trần gian
Kẻ bần cùng nay lại được cao sang
Người quyền quý hết công danh trọng vọng.

7. Có một người ngồi đan dây thòng lọng
Khi vừa đan lại vừa thả xuống chân
Con chó cái vốn dĩ ở trong rừng
Gặm dây ấy và nuốt luôn hết cuộn.

Sẽ có thời nữ nhân đầy tham dục
Theo rượu nồng bỏ quên chuyện luân thường
Chuyện tề gia lúc ấy cũng phải nhường
Lo tiêu phí hoang đàng chẳng từ khước.

8. Tại hoàng môn có một bình đầy nước
Nhưng phía trong có những cái rỗng không
Người người đến đua nhau đem nước trong
Đổ bình đầy chẳng để ý bình không.

Sẽ có thời ngân khố sắp suy vong
Vua ra lệnh con dân  dồn sức lực
Để làm giàu ngân khố của toàn quân
Mặc dân oán, đói ăn như bình rỗng.

9. Con còn thấy có một giếng nước trong
Nhưng lạ thay nước sạch chỉ ở gần
Còn ở giữa nước sâu nhưng đục bẩn
Những thú rừng chỉ đến uống nước xanh.

Đó là thời vua quan hết liêm thanh
Vét của dân, tham nhũng chẳng chi chừa
Dân bỏ thành đến vùng biên mở cửa
Lập phố phường, đất lành để an cư.

10. Cơm lửa sôi, trong nồi có ba thứ
Một lớp thì nhão nhẹt chẳng thể an
Lớp còn sống hạt gạo cứng như gang
Lớp ba tốt chín vừa ăn ngon miệng.

Thời vị lai, quan dân chẳng nể kiêng
Sống bất chánh nên tiết thời thay đổi
Lúc hạn dài khi lại nước triều đôi
Do theo người sống tà tư bất chánh.

11. Mộng kế tiếp vua thấy dân ở thành
Đổi chiên đàn trầm hương quý cao sang
Lấy bơ tươi như đá đổi lấy vàng
Đem gỗ quý nhận về toàn bơ sữa.

Đó là thời Giáo Pháp bị suy hư
Có nhiều người danh nghĩa bậc xuất gia
Đem giáo pháp trao đổi của với quà
Mang y bát kiếm tiền nuôi sức khỏe.

12. Trẫm đã thấy những dây bầu dây bí
Ruột rỗng không nhưng chẳng nổi trên dòng
Mà chìm xuống đáy hồ nước xanh trong
 Chuyện ngộ đời thấy lạ ở trong lòng.

Đời đảo điên, vua chúa sống bất công
Kẻ hạ đẳng lên hương đời quý tộc
Người cao sang hạ bệ cả tộc tông
Hết vinh quang, điên đảo cuộc suy đồi.

13. Rồi giấc mộng kỳ lạ về đá nổi
Tảng đá dài to bự tựa nhà tranh
Nổi lênh đênh giữa dòng thác nước gành
Không chìm xuống như chuyện đời thường gặp.

Kẻ ngu si tiếng nói được trọng dùng
Người có trí tiếng lời đều vô nghĩa
Cũng như thế trong hàng các tu sĩ
Chẳng kính nhường bậc trưởng lão tôn nghiêm.

14. Con nhái bén nhỏ mình bé tí teo
Lại đua nhau săn bắn rắn khổng lồ
Rắn chẳng trốn mặc tình chịu bắt thô
Như cam chịu mặc nhái mình hành xác.

Đó là thời nam nhân thay đổi khác
Chịu thân làm nộ lệ kẻ thiếp thê
Từ áo quần, bạc tiền đều thôi kệ
Kiếp nhược nhu, run sợ trước đàn bà.

15. Con quạ đen ghê gớm đủ ác tà
Bỗng có thế được thời lên ngôi chủ
Để phụng hoàng chim quý phải phục phủ
Hộ tống đoàn như kẻ tớ phục ông.

Chuyện sau này vương quốc lúc suy vong
Người quý tộc, vua hạ quyền làm lính
Phải kính nhường kẻ tiện nô bất minh
Mong yên ổn sống chờ qua ngày tháng.

16. Một việc lạ xảy ra trên đồng áng
Chúa sơn lâm bị dê bắt xé thây
Bầy chó sói hoảng hốt phải chạy dài
Khi thấy bóng bầy dê từ xa khuất.

Bọn hạ đẳng lên quyền hàng cao nhất
Chúng lạm quyền hà hiếp bậc cao nhân
Cũng như thế Sa môn chẳng muốn gần
Bọn hung ác giả danh dòng họ Thích.

Mười sáu điềm nghe qua cũng chẳng ít
Đã hiện bày trong thế giới nhiễu nhương
Giữa thế thời thảm trạng thật tang thương
Đành chịu vậy chớ nào thay đổi được.

Nhưng dặn lòng chẳng nhiễm tính độc trược
Ráng giữ tâm không xu hướng ác tà
Lo tu tập thoát khỏi kiếp sa bà
Đạt tuệ giác xa lìa đời ô trọc.

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Chiếc bè Chánh pháp

Chiếc bè Chánh pháp

Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
- Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: "Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn". Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?
- Bạch Thế Tôn, không.
- Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.
Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.

(Trung Bộ Kinh 1, Kinh Ví Dụ Con Rắn, trang 305)

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

CHỮ "HIẾU" TRONG CA DAO - TỤC NGỮ


Hằng năm, cứ vào mùa mưa là chúng ta bắt đầu cho một mùa Vu Lan báo hiếu. Tuy đây không phải là một lễ nghi truyền thống tôn giáo mà chỉ là một hành động, một việc làm để gợi nhớ nơi những đứa con về công sanh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Đó cũng là một truyền thống của dân tộc Việt Nam ta, truyền thống về tinh thần hiếu thảo của người con giống tiên rồng.
Vu Lan, hai tiếng đã trở nên quá quen thuộc không chỉ đối với hàng Phật tử mà còn quá gần gũi đối với hầu hết những người dân Việt chúng ta. Trên thế giới, các nước phương Tây có một ngày dành riêng cho mẹ (ngày chủ nhật của tuần thứ hai trong tháng 5) nên gọi là Mother's Day; còn đối với cha cũng có một ngày riêng (ngày chủ nhật của tuần thứ 3 trong tháng 6) nên gọi là Father's Day. Còn ở Việt Nam chúng ta thì một ngày để tưởng nhớ đến công ơn cha mẹ chính là ngày Vu Lan Báo Hiếu (rằm tháng 7 âm lịch).
Vu Lan, nếu nói cho đủ chữ, đủ nghĩa thì phải gọi là Vu Lan Bồn, theo tiếng Pāli thì được phiên âm từ chữ Ullumpana, xuất phát từ động từ Ullumpati, có nghĩa là giúp đỡ, cứu vớt; còn tiếng hán có nghĩa là Đảo Huyền; tức là lễ cứu vớt những vong nhân đang bị đọa xứ khổ cảnh.
Lễ Vu-lan là dựa theo tích chuyện trong kinh Vu-lan-bồn (Ullambana Sutra, Đại Chánh Tạng, tập 16), trong đó, Đức Phật dạy Trưởng lão Mục-kiền-liên cúng dường thức ăn đến chư Tăng trong ngày Tự tứ và hồi hướng phước báu đến mẹ là bà Thanh-đề để giúp bà thoát khỏi khổ cảnh của kiếp ngạ quỷ.
Trong kinh điển nguyên thủy, không thấy đề cập đến sự tích nêu trên. Tuy nhiên, trong quyển Ngạ quỷ sự thuộc Tiểu Bộ có ghi lại một câu chuyện tương tự. Đó là chuyện ngạ quỷ mẹ của Ngài Xá-lợi-phất (Chú giải Ngạ quỷ sự, Phẩm Ubbari, Chuyện số 2, Tỳ khưu Thiện Minh dịch). Tóm tắt như sau:
Một ngày nọ, các ngài Trưởng lão Sāriputta, Trưởng lão Mahāmoggallāna, Trưởng lão Anuruddha ngụ tại một khu rừng hoang gần thành Vương Xá. Một nữ ngạ quỷ với thân hình gầy ốm, hình tướng gớm ghiết, đến gặp các ngài và cho biết trong tiền kiếp, ngạ quỷ từng là mẹ của Ngài Xá-lợi-phất. Do lòng keo kiết, bủn xỉn, bà đã đối xử tàn tệ với các vị tu sĩ, và lại sinh ác tâm chưởi rủa mắng nhiếc các vị ấy, nên bà phải lảnh quả báo ác, sinh làm ngạ quỷ trong kiếp này. Bà xin Trưởng lão Xá-lợi-phất tổ chức bố thí cúng dường, rồi hồi hướng phước đến cho bà để được thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ sở.
Sáng hôm sau, nhân khi đi khất thực trong thành Vương Xá, các ngài đến gặp vua Bình-sa, và Ngài Mục-kiền-liên thuật lại câu chuyện ấy cho vua nghe. Nhà vua hoan hỷ phát tâm trong sạch hứa sẽ giúp Ngài Xá-lợi-phất. Vua truyền lệnh cho các quan dựng bốn tịnh thất trong khu rừng ngoại thành, và sửa soạn vật thực, đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó, nhà vua chuyển toàn bộ những thứ ấy đến Ngài Xá-lợi-phất. Nhân danh mẹ, Ngài Xá-lợi-phất bố thí cúng dường đến Đức Phật và Tăng đoàn, rồi hồi hướng công đức phước báu đến cho bà. Nhờ đó, bà được tái sinh vào cõi Trời Phạm Thiên.
Mặc dù vài chi tiết trong câu chuyện này không giống như chuyện ghi trong kinh Vu-lan-bồn, việc cúng dường đến chư Tăng, rồi hồi hướng phước báu đến cha mẹ đã qua đời, có một ý nghĩa rất rõ ràng, tương hợp trong cả hai truyền thống chính của Phật giáo.
Những năm gần đây, lễ Vu Lan dường như trở nên phổ biến, phát triển rộng rãi trong hàng Phật tử với nhiều việc làm thiết thực mà chúng ta có thể thấy rõ nhất là việc cúng dường trai đàn, đặt bát cúng dường đến chư Tăng...
Những việc làm đó, phải chăng đã đủ để chúng ta đền đáp công ơn sanh thành? Nếu nói cho cùng, những việc làm đó, so với công lao của cha mẹ cũng giống như là so sánh một hạt mưa với những trận mưa ngâu của tháng 7 vậy. Làm sao mà so sánh được. Ân sanh thành, giáo dưỡng của cha mẹ đối với chúng ta quá to lớn, quá bao la, quá vĩ đại thì những việc làm đó làm sao mà đền đáp được.
Đã là con người, được sinh ra trong thế gian, được đi-đứng-nằm-ngồi thì không ai là không có cha mẹ, ai cũng được cha mẹ sanh ra và lớn lên nhờ cha mẹ, dẫu rằng ai đó là một đứa con ngoài ý muốn, hoặc sanh ra đã không biết mặt cha mẹ đi chăng nữa thì thịt xương này, hơi thở này, hình hài này vẫn là của cha mẹ tạo ra cho chúng ta. Chín tháng cưu mang, bao năm bồng bế, bao năm cho bú mớm, rồi lớn lên phải cho ăn học, phải lo cơm áo, gạo tiền cho con... Bấy nhiêu thôi cũng đủ để chúng ta tri ân đối với song thân, người đã tạo ra cho ta hình hài này để hiện diện trên thế gian này.
Ân đức của cha mẹ được ca dao ví như sông núi, như bầu trời bao la, như suối nguồn vô tận. Có biết bao lời ca tiếng hát để ca ngợi tình thương con của cha mẹ dành cho con, rồi ca dao tục ngữ...
Ngay từ lúc nhỏ, thậm chí từ lúc chưa được ngồi trên ghế nhà trường, ông bà, cha mẹ đã dạy cho thuộc lòng câu ca dao :
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con".
Quả thật, đúng như thế, công ơn cha mẹ quá cao dày thì làm sao có thể so sánh được. Chúng ta chỉ có thể hình dung được sự cao lớn của núi Thái và sự mênh mông, vô tận của nước trong nguồn để ví von về ân đức cao dày của cha mẹ đối với con cái.
"Công cha nghĩa mẹ cao vời,
Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.
Nên người con phải xót xa,
Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.
Đội ơn chín chữ cù lao,
Sanh thành kể mấy non cao cho vừa".
Chín chữ cù lao, đó là chín điều khó nhọc mà cha mẹ phải mang nặng khi sanh con ra và nuôi con khôn lớn.
1.Sinh: Sanh đẻ.
2.Cúc: Nâng đỡ.
3.Dục: Dạy dỗ.
4.Phủ: Vuốt ve triều mến.
5.Xúc: Cho bú sữa.
6.Trưởng: Nuôi cho khôn lớn.
7.Cố: Trông nom.
8.Phục: Ôm ấp.
9.Phúc: Bảo vệ.
"Công cha đức mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ song thân".
"Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá,
Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.
Đi về lập miếu thờ vua,
Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha".
Khi sanh con ra, cha mẹ lo cho con từ miếng cơm đến manh áo để không thua sút bạn bè, bởi thế khi cha mẹ đã lớn, người con phải biết phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc cha mẹ.
"Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.
Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi".
Thậm chí, có những người con gái, vì lòng hiếu thuận cha mẹ, dám hy sinh đời mình để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi đã xế chiều như là tấm lòng đền đáp của người con hiếu thảo.
"Ơn hoài thai, to như bể!
Công dưỡng dục, lớn tựa sông!
Em nguyện ở vậy không chồng,
Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con".
Mình nuôi cha mẹ không phải vì cha mẹ đã nuôi mình, giờ mình phải nuôi lại như là một món hàng trao gửi qua lại. Tinh thần hiếu thảo không nằm ở đó. Mình phụng dưỡng cha mẹ vì cha mẹ là bậc ân nhân của mình, nhờ có cha mẹ nên mình mới có được hình hài như bây giờ, mình được hiện hữu trên cõi đời này cũng nhờ có cha mẹ, vì không ai sinh ra mà không có cha mẹ sanh thanh dưỡng dục cả. Vả lại, quy luật nhân quả khắc nghiệt sẽ không tha thứ cho những kẻ vô tâm làm trái với luân thường đạo lý, không biết tôn kính cha mẹ.
"Nếu mình hiếu với mẹ cha,
Chắc con cũng hiếu với ta khác gì?
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?".
"Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận,
Ngỗ nghịch nào con có khác chi!
Xem thử trước thềm mưa xối nước,
Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì".
Không phải tất cả những người con đều là những người con hiếu thảo. Bàn tay thì có ngón ngắn, ngón dài. Lòng người cũng thế, làm sao biết được. Có những đứa con, chúng vô tâm đâu biết quan tâm đến cha mẹ chúng như thế nào, chúng chỉ biết quanh quẩn với những đồng tiền chúng làm ra rồi thỏa sức mà ăn xài và tiêu phí. Chỉ khi nào chúng trở thành những người cha, người mẹ thì mới thấu hiểu được câu ân tình, chữ cù lao mà cha mẹ dành cho chúng từ khi chúng chưa biết gì.
"Ở đời ai cũng có lần,
Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành.
Người xưa khó nhọc nuôi mình,
Khác gì mình đã hết tình nuôi con".
"Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ".
Tình mẹ dạt dào vô bờ bến, lòng mẹ thương con cũng như thế. Bởi thế, kho tàng ca dao - tục ngữ có rất nhiều câu để đề cao tình mẹ vô bến bờ.
"Ai rằng công mẹ như non,
Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn".
"Lòng mẹ như bát nước đầy,
Mai này khôn lớn, ơn này tính sao ".
"Nhớ ơn chín chữ cù lao,
Ba năm bú mớm biết bao thân tình".
"Con ho lòng mẹ tan tành,
Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi".
"Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn".
"Mẹ ngoảnh đi, con dại,
Mẹ ngoảnh lại, con khôn".
"Mẹ giàu con có, mẹ khó con không".
"Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một, như đường mía lau" .
"Bồng cho con bú một hồi,
Mẹ đã hết sữa, con vòi con la".
"Nuôi con buôn tảo bán tần,
Chỉ mong con lớn nên thân với đời.
Những khi trái nắng trở trời,
Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.
Trọn đời vất vả triền miên,
Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con".
Cha tuy không trực tiếp sanh ra ta, nhưng nếu không có cha thì mình cũng không thể nào có trên thế gian này để nếm trải đủ thứ mật ngọt, đắng cay của cuộc đời. Tuy con cái không gần gũi cha như mẹ, và người cha cũng ít bộc lộ tình cảm như người mẹ, nhưng tình cha luôn ấm nồng như vầng thái dương của cuộc đời con.
"Con có cha như nhà có nóc,
Con không cha như nòng nọc đứt đuôi".
"Khôn ngoan nhờ ấm ông cha,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ".
"Đạo làm con chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm".
"Còn cha gót đỏ như son,
Một mai cha chết gót con đen sì".
Công cha là như thế, tình mẹ là như thế, luôn cao vời vợi, luôn rộng mênh mông, là người, mình đừng bao giờ bỏ quên phận sự làm con phải biết báo đền ơn sinh dưỡng. Tuy không là bao so với ân tình cha mẹ đã bỏ ra nhưng cũng là tấm lòng hiếu thuận của người con.
"Mẹ già ở túp lều tranh,
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con".
"Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già".
"Đói lòng ăn đọt chà là,
Nhịn cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng".
"Đói lòng ăn trái ổi non,
Nhịn cơm cho mẹ, cho tròn nghĩa xưa".
"Dấn mình gánh nước làm thuê,
Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân".
"Vô Chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy mẹ, công phu chưa đành".
"Nuôi con chẳng quản chi thân,
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,
Lấý gì đền nghĩa khó khăn,
Lên non xắn đá, xây lăng phụng thờ".
"Đây bát cơm đầy nặng ước mong,
Mẹ ôi, đây ngọc với dây lòng.
Đây tình con nặng trong tha thiết,
Ơn nghĩa sanh thành, chưa trả xong".
Đó là một số ít trong vô số câu ca dao, tục ngữ đề cập đến ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và truyền thống hiếu thảo của con người Việt Nam trong tinh thần của dân tộc. Qua đó, chúng ta thấy rằng, truyền thống hiếu thảo là một truyền thống đã đi sâu vào tâm trí của mỗi con người Việt Nam, dù ở xa xứ hay tại quê hương cũng đều hướng về ngày Vu Lan để đáp nghĩa song thân. Hỵ vọng với chút tấm lòng, xin hướng về những bậc cha mẹ như là món quà để dâng lên các bậc song thân nhân mùa lễ Vu Lan.

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

VỀ LẠI DÒNG SÔNG (Quach Khang Huy)

Ta về
               trở lại dòng sông

Như người thuở ấy,
                 bên dòng lắng nghe

Trưa rơi
      gió lộng
        bên hè

Nắng soi tâm sự
                khô se tim mình

Đời trao du sĩ
                          chút tình

Nửa là gian dối,
                        nửa hình như ... thôi

Chiều nay
   bến nước
        sông trôi

Ngậm ngùi ký ức,
                 bồi hồi chuyện mai

Cuộc đi
      ai biết ngắn dài

Mỗi khi nguy sự
                   thì hay một lần.

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

TÌNH BẠN CHÂN THẬT (Định Phúc)




Bất cứ người nào, khi có được một tình bạn chân thật thì chắc chắn rằng sẽ nhận được rất nhiều lợi ích. Nếu mình sống thành thật và trung thành với bạn bè, thì dù đi bất cứ nơi đâu cũng sẽ có được nhiều điều may mắn, hữu ích xảy ra với mình.

Những lợi ích của tình bạn chân thật được ghi lại trong Kinh bổn sanh như sau:

 Nhận được nhiều sự tiếp đón ân cần, nhiều người khác cũng sẽ được lợi ích qua người ấy.

Pahūtabhakkho bhavati,
Vippavuṭṭho sakaṃ gharā;
Bahū naṃ upajīvanti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Một kẻ trung thành với bạn thân,
Dù đi phiêu bạt khắp xa gần,
Nhiều người hoan hỷ đem cung phụng
Thực phẩm tất nhiên được hiến dâng.

 Được kính trọng bởi bất kỳ quốc độ, làng mạc hay tỉnh thành nào mà người ấy tới viếng thăm.

Yaṃ yaṃ janapadaṃ yāti,
Nigame rājadhāniyo;
Sabbattha pūjito hoti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Dù đất nước nào phiêu bạt qua,
Kinh thành, thị trấn khắp gần xa,
Kẻ nào chung thủy cùng bằng hữu
Cũng được vinh quang danh vọng mà.

 Không bị khống chế bởi bọn cướp, hoàng tộc sẽ không khinh bỉ người ấy, người ấy toàn thắng mọi kẻ thù.

Nāssa corā pasāhanti,
Nātimaññanti khattiyā;
Sabbe amitte tarati,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Không đạo tặc nào dám tổn thương,
Cũng không võ tướng dám khinh nhờn,
Người nào trung tín cùng bằng hữu
Sẽ thoát khỏi bao kẻ oán hờn.

 Trở về nhà với lòng hân hoan, hòa hợp với hội chúng và trở thành người lãnh đạo trong gia tộc.

Akkuddho sagharaṃ eti,
Sabhāyaṃ paṭinandito;
Ñātīnaṃ uttamo hoti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Người ấy hoàn hương, thảy đón chào,
Lòng không mòn mỏi với ưu sầu;
Kẻ nào chung thủy cùng bằng hữu
Giữa đám bà con, đệ nhất cao.

 Được tiếp đón ân cần vì sự ân cần của người ấy đối với người khác, vì kính trọng người khác nên người ấy được kính trọng. người ấy được hoan hỷ bởi được tán thán và tiếng thơm.

Sakkatvā sakkato hoti,
Garu hoti;
Vaṇṇakittibhato hoti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Tôn vinh người, lại được tôn vinh,
Ðược kính trọng và đáp thịnh tình.
Một kẻ trung thành cùng bạn hữu
Nhận phần vinh hiển khắp quần sinh.

 Nhận được quà tặng vì chính người ấy cũng từng là người tặng. vì sự tôn kính người khác, chính người ấy là biết tự trọng nên người ấy đạt được sự thuận lợi.

Pūjako labhate pūjaṃ,
Vandako paṭivandanaṃ;
Yaso kittiñca pappoti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Người nào biết quý trọng người đời,
Sẽ được mọi người quý trọng thôi;
Một kẻ trung thành cùng bạn hữu
Phần mình được tiếng tốt cao vời.

 Được nổi tiếng khắp nơi và tỏa sáng như chư thiên luôn luôn thành tựu mọi ước nguyện.

Aggi yathā pajjalati,
Devatāva virocati;
Siriyā ajahito hoti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Kẻ ấy giống như lửa cháy bừng
Tỏa ra ánh sáng tựa Thiên thần,
Người nào trung tín cùng bằng hữu
Chiếu ánh huy hoàng rực rỡ luôn.

 Có được nhiều của cải, tài sản. những gì người ấy giao trên ruộng đồng sẽ đơm hoa kết trái và sự thu hoạch sẽ làm cho người ấy hoan hỷ.

Gāvo tassa pajāyanti,
Khette vuttaṃ virūhati;
Vuttānaṃ phalamasnāti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Trâu bò tăng trưởng thật là nhanh,
Hạt giống thường xuyên mọc tốt lành;
Một kẻ trung thành cùng bạn hữu
Tất nhiên gặt hái mọi công thành.

 Được che chở và không bị tổn thương vì tai nạn hay những sự nguy hiểm.

Darito pabbatāto vā,
Rukkhato patito naro;
Cuto patiṭṭhaṃ labhati,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Nếu bị rơi từ đỉnh núi cao,
Hoặc từ cây cối hoặc hang hào,
Người nào chung thủy cùng bằng hữu
Cũng thấy đất bằng vững chắc sao.

 Không bị lật đổ bởi kẻ thù, như cây đa có rễ ăn thật sâu trong lòng đất không thể bị lật ngã bởi gió to.

Virūḷhamūlasantānaṃ,
Nigrodhamiva māluto;
Amittā nappasāhanti,
Yo mittānaṃ na dubbhati.

Cây đa thách đố mọi cuồng phong
Cành lá mọc quanh gốc rễ chung,
Kẻ biết trung thành cùng bạn hữu,
Oán hờn cừu địch thảy tiêu vong.

(Tiểu Bộ Kinh 9. Chuyện Tiền Thân Số 538 – Mūgapakkhajātaka)


Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

ĐỨC PHẬT VÀ 45 NĂM MÙA AN CƯ KIẾT HẠ (TK Định Phúc)

Đức Phật với 45 năm mùa an cư kiết hạ.

TK. Định Phúc
 
Dưới cội cây Bồ Đề (Bodhirukkha), vào ngày trăng tròn tháng Vesak năm 623 TCN, đức Bồ Tát Siddhattha đã trở thành một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammāsambuddho) duy nhất và tối thượng nhất trong tam giới này. Từ lúc thành đạo cho đến ngày Đức Thế Tôn viên tịch Níp-bàn dưới tàn cây của hai cội long thọ (Sālā) tại vườn Kusinārā của người Malla, Ngài đã trải qua 45 năm hoằng pháp với 45 lần an cư mùa mưa để đem đem đến con đường giải thoát cho những chúng sanh nào hữu duyên với Chánh Pháp.

Trong suốt 45 năm đó, Ngài không ở suốt nơi nào trong thời gian lâu, đó là thông lệ ba đời chư Phật, Ngài thường du hành khắp nơi để tiếp độ chúng sanh, đến khi mùa mưa đến thì Ngài cùng với chư Tăng mới an cư tại một địa điểm suốt 3 tháng mùa mưa. Rồi sau đó, khi mãn hạ thì Ngài lại cùng với chư Tăng lại tiếp tục công cuộc hoằng pháp độ sinh.

1. Mùa an cư thứ 1:

Vào ngày rằm tháng 6, sau khi thành đạo được hai tháng, Đức Phật vận chuyển bánh xe pháp tại vườn Lộc Uyển, ở Isipattana để tiếp độ cho nhóm 5 anh em của Ngài Kiều Trần Như (Koṇḍañña) với bài pháp đầu tiên là bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta). Với bài pháp này, Ngài Kiều Trần Như đã thành tựu được Thánh quả Nhập lưu và xuất gia tỳ-khưu với hình thức “Ehi Bhikkhu!”, trở thành vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật Giáo.

Vào ngày 16 cho đến ngày 19 tháng 6 thì lần lượt các Ngài Vappa, Ngài Bhaddiya, Ngài Mahānāma và Ngài Assaji cũng đắc được Thánh quả Nhập lưu và cũng được xuất gia bằng “Ehi Bhikkhu!”.

Sau đó, ngày 20 tháng 6 thì Đức Thế Tôn thuyết bài Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇsutta) đến cho 5 vị tỳ-khưu và cuối thời pháp các Ngài đã thành tựu được Thánh quả A-la-hán. Như vậy là chỉ 5 ngày đầu tiên của mùa an cư thứ nhất, Đức Thế Tôn đã thuyết pháp tiếp độ được 5 vị Thánh Tăng đầu tiên để mở đầu cho công cuộc hoằng pháp của Ngài.

Sau đó, ngài còn tiếp độ cho thanh niên Yasa cùng với 54 người bạn xuất gia và trở thành những vị Thánh Tăng. Như vậy, ngay lúc này trên thế gian đã có được 61 vị Thánh vô lậu xuất hiện.

2. Mùa an cư thứ 2-3-4:

Sau khi tiếp độ đức vua Bimbisāra (Bình Sa Vương) và tiếp nhận ngôi Tịnh xá Trúc Lâm (Veḷuvanavihāra – ngôi Tịnh xá đầu tiên trong Phật Giáo) gần thành Rājagaha (Vương Xá thành). Và chính tại nơi này, Đức Thế Tôn đã cùng với chư Tăng nhập hạ suốt 3 mùa an cư. Tuy nhiên, chúng ta nên hiểu là không phải Ngài ở suốt nơi này 3 năm, mà ngài chỉ ở suốt 3 tháng mùa mưa thôi rồi Ngài tiếp tục du hành thuyết pháp cho đến khi mùa mưa thì Ngài lại trở về Trúc Lâm Tịnh xá an cư mùa mưa.

3. Mùa an cư thứ 5:


Đức Phật đã nhập hạ tại ngôi Trùng Các Giảng đường (Kūṭāgārasālā) ở Đại Lâm (Mahāvana) gần kinh thành Xá Vệ (Vesāli). Trong mùa an cư này, Dì mẫu Mahāpajāpatigotamī cùng với 500 Thích nữ đã tự cạo tóc đắp y, đi bộ từ Kapilavatthu đến Vesāli để xin Đức Phật cho nữ giới xuất gia. Ngài đã ban hành 8 trọng pháp (Garudhamma) đến cho Dì mẫu như là sự xuất gia Tỳ khưu Ni của bà. Như vậy, đến mùa an cư này thì hội chúng Tỳ khưu Ni đã xuất hiện, Giáo hội Tỳ khưu Ni đã được thành lập, tứ chúng đã có mặt đầy đủ kể từ đây.

4. Mùa an cư thứ 6:

Đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu an cư mùa mưa tại núi Maṅkula[1].

5. Mùa an cư thứ 7:

Vào mùa hạ này, Đức Phật đã ngự lên cung trời Tāvatiṃsā để thuyết giảng Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) cho thân mẫu của ngài, là vị thiên tử ở cõi trời Đâu Suất (Tusita) trong suốt 3 tháng mùa mưa (tính theo thời gian cõi nhân loại). Sau khi nghe xong thời pháp, vị thiên tử đắc được Thánh quả Tu-đà-huờn.

Mỗi ngày, Đức Phật dùng thần thông hóa hiện ra một vị Phật nữa để thuyết pháp, còn Ngài đi khất thực tại xứ Bắc Cưu Lưu Châu, sau khi khất thực xong thì Ngài trở về Saṅkassa tóm tắt lại những gì Ngài đã thuyết cho Tôn giả Sāriputta nghe. Rồi sau đó Ngài trở lại cõi trời Tam Thập Tam để tiếp tục thuyết pháp.

Vào ngày mãn hạ, Đức Thế Tôn từ cung trời trở về địa cầu bằng chiếc thang ngọc do Thiên chủ Sakka hóa dựng, bên phải co chiếc thang bằng vàng cho chư thiên và bên trái có chiếc thang bạc cho chư đại phạm thiên. Cổng thành Saṅkassa nơi Phật ngự xuống là một trong số những địa điểm sẽ không bao giờ thay đổi của thế gian này, và tất cả chư Phật đều giáng trần tại đây sau khi thuyết Abhidhamma.

6. Mùa an cư thứ 8:

Đức Phật đã an cư mùa mưa tại rừng Bhesakala, ở núi Suṃsumāra của xứ Bhagga.

7. Mùa an cư thứ 9:


Đức Phật an cư tại ngôi chùa Ghositārāma ở Kosambi.

Thứ hậu Māgandiyā có mối hận thù với Đức Phật vì ngài nói bà “không thể so sánh với con gái của ma vương, Ngài không bao giờ đưa chân dụng tới nàng bởi vì nàng chỉ là một bị chứa đầy 32 thể trược” khi cha mẹ của nàng đưa đến để gả nàng cho Đức Phật. Vì mối hận từ trước, thứ hậu cho mướn côn đồ xỉ vả, mắng chửi Đức Phật khi ngài đi khất thực trong kinh thành. Và sau 7 ngày thì mọi tiếng ồn ào, mắng chửi này đã tự yên lặng.

8. Mùa an cư thứ 10:

Có hai nhóm Tỳ khưu trong thành Kosambi bất hòa với nhau, Thế Tôn khuyên ngăn không được nên Ngài đi vào rừng Pārileyyaka một mình và trải qua mùa an cư tại đây với sự hộ độ cúng dường của một con voi và một con khỉ.

9. Mùa an cư thứ 11:

Đức Phật đã ngự đến ngôi làng Ekanāḷā, trong Dakkhinagiri, một ngôi làng theo Bà-la-môn giáo gần xứ Magadha. Ngài ngự đến đây để thuyết pháp tiếp độ cho ông Bà-la-môn Kasibhāradvāja bằng thời pháp với đề tài “cách làm ruộng của Đức Phật”. Sau đó ông xuất gia trở thành vị Tỳ khưu Phật Giáo và chứng đắc được Thánh quả A-la-hán.

10. Mùa an cư thứ 12:

Theo lời thỉnh cầu của Bà-la-môn Verañja, Đức Phật cùng với chúng Tỳ khưu an cư mùa mưa tại xứ Verañjā. Lúc bấy giờ, nạn đói xảy ra tại xứ này, Đức Phật và chư Tăng phải dùng thức ăn của ngựa do một người buôn ngựa dâng cúng. Và trong mùa an cư này, Tôn giả Sāriputta bạch hỏi Đức Phật về thọ mạng của Giáo Pháp. Thế Tôn đã giảng cho Tôn giả nghe về thọ mạng của Giáo Pháp trong thời các vị Phật quá khứ. Tôn giả bạch xin Phật ban hành giới luật nhưng Thế Tôn đã từ chối lời thỉnh cầu ấy.

11. Mùa an cư thứ 13:

Mùa an cư này, Đức Phật ngự tại núi Cāliya. Lúc bấy giờ, Tỳ khưu Meghiya là thị giả hầu cận của Ngài[2]. Một hôm, trên đường đi khất thực trong làng Jantu, Tỳ khưu Meghiya thấy một khu vườn xoài bên bờ sông có khung cảnh hữu tình, khả ái nên muốn đi đến đó để tu tập. Tỳ khưu Meghiya đến bạch xin Đức Phật nhưng Ngài quán thấy duyên lành chưa đến nên Ngài khuyên ngăn 3 lần nhưng Tỳ khưu Meghiya vẫn bỏ đi.

Tỳ khưu Meghiya quá nóng vội nên lúc độc cư thiền tịnh vẫn không an trú được và quay trở về với Đức Phật. Thế Tôn giảng dạy cho Meghiya về năm pháp để thuần thục tâm giải thoát, là năm pháp diệt trừ tà tư duy, để hỗ trợ cho pháp hành thiền định. Tỳ khư Meghiya vâng lời Thế Tôn và chẳng bao lâu thành tựu được Thánh quả A-la-hán.

12. Mùa an cư thứ 14:

Mùa an cư này Đức Phật cùng với chư Tăng nhập hạ tại ngôi đại Tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana Mahāvihāra) do ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) kiến tạo gần kinh thành Sāvatthi. Trong mùa an cư này, Sa-di Rāhula tròn 20 tuổi nên được xuất gia Tỳ khưu với Ngài Tôn giả Sāriputta làm thầy tế độ.

13. Mùa an cư thứ 15:

Đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu nhập hạ tại ngôi chùa Nigrodhārāma, gần kinh thành Kapilavatthu. Ngôi chùa này do đức vua Mahānāma kiến lập để cúng dường và cung thỉnh Đức Phật với Chư Tăng trú ngụ. Cũng được ghi nhận là Đức Thế Tôn chỉ nhập hạ duy nhất một mùa an cư tại quê hương của mình.

Một sự kiện cũng đáng lưu ý là việc đức vua Thiện Giác (Suppabuddha) vì hận Đức Phật đã bỏ rơi con gái mình (công chúa Yasodharā) và làm cho con trai của mình (Devadatta) đi xuất gia nên vua đã ngăn cản đức phật khi ngài đi khất thực. Do hành động này, vua đã bị đất rút một cách thê thảm và đau đớn.

14. Mùa an cư thứ 16:

Đức Phật đã ngự tại Aggaḷāva của xứ Āḷavī và đã tiếp độ được dạ xoa Āḷavaka rất hung ác, nhờ Đức Phật tiếp độ và giáo hóa nên dạ xọa thành tựu được Thánh quả Tu-đà-huờn.

15. Mùa an cư thứ 17:

Mùa an cư này Đức Phật nhập hạ tại Trúc Lâm Tịnh xá (Veḷuvanavihāra) ở thành Rājagaha của xứ Magahda (Ma Kiệt Đà).

16. Mùa an cư thứ 18:

Thế Tôn nhập hạ 3 tháng mùa mưa ở núi Cāliya.

17. Mùa an cư thứ 19-20:

Hai mùa an cư liên tiếp, Đức Thế Tôn nhập hạ tại tại Trúc Lâm Tịnh xá (Veḷuvanavihāra).

Một sự kiện quan trọng xảy ra trong mùa hạ là sự kiện Tôn giả Ānanda chính thức trở thành vị thị giả hầu cận bên Đức Thế Tôn. Suốt 20 năm, Ngài không có vị thị giả cố định thường túc trực để hầu cận nên vào mùa hạ này Thế Tôn cũng đã lớn tuổi (55 tuổi) nên Ngài muốn có một vị thị giả hầu cận phục vụ. Tôn giả Ānanda trở thành vị Tỳ khưu thị giả của Đức Phật kể từ mùa hạ này trở đi.

18. Mùa hạ an cư thứ 21 cho đến mùa hạ an cư thứ 44:

Đức Thế Tôn chỉ thường trú tại hai ngôi chùa chính ở Sāvatthi, đó là Kỳ Viên Tịnh xá do ông Cấp Cô Độc cúng dường và ngôi Đông Phương Tự (Pubbārāma) do bà Visākhā cúng dường.

19. Mùa an cư thứ 45:

Mùa an cư cuối cùng của Đức Thế Tôn là tại ngôi làng Beluva gần kinh thành Vesāli. Trong mùa hạ này Ngài lâm trọng bệnh nhưng vẫn duy trì mạng quyền để tiếp tục công cuộc hoằng pháp độ sinh. Đức Thế Tôn nhập hạ suốt 3 tháng mùa mưa tại đây rồi tiếp tục du hành về nhiều nơi và cuối cùng là Kusinārā để viên tịch Níp-bàn vào ngày trăng tròn tháng Vesak cách đây 2555 năm.

45 năm, 45 mùa an cư kiết hạ của Đức Thế Tôn đã trải qua. Thời gian qua đi không bao giờ trở lại được nhưng những bước chân của Ngài và chư Tăng trên khắp nẻo đường để thuyết pháp tế độ chúng sanh vẫn lưu lại. Đó là hình ảnh đẹp, tấm gương sáng về một bậc vĩ nhân duy nhất trong tam giới này./.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Trong chú giải Buddhavaṃsa ghi là núi Makula.
[2] Đức Phật chưa có vị thị giả nào hầu cận thường trục để phục vụ Ngài.