Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Quốc vương Thái Lan gửi lời chúc mừng năm mới 2557


Theo truyền thống hằng năm, vào lúc giao mùa của năm cũ và năm mới Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej sẽ có bài phát biểu chúc mừng năm mới đến với toàn dân. Và bài phát biểu năm nay của Quốc vương có nội dung như sau:
"ประชาชนชาวไทยทั้งหลาย บัดนี้ถึงวาระขึ้นปีใหม่ ข้าพเจ้าขอส่งความปรารถนาดี มาอวยพรแก่ท่านทุกๆคน ให้มีความสุขความเจริญและความสำเร็จสมประส­งค์ในสิ่งที่ปรารถนา ความปรารถนาของทุกๆคนคงไม่แตกต่างกันนักคื­อ ต้องการให้ตนเองมีความสุขความเจริญและให้บ­้านเมืองมีความสงบร่มเย็น ในปีใหม่นี้ จึงขอให้ท่านทั้งหลายรักษาสุขภาพกาย สุขภาพจิตให้สมบูรณ์แข็งแรง เพื่อให้สามารถปฏิบัติหน้าที่ได้เต็มกำลัง ข้อสำคัญ จะคิดจะทำสิ่งใด ให้นึกถึงส่วนรวมและความเป็นไทยไว้เสมอ งานของตนและงานของชาติจะได้ดำเนินก้าวหน้า­ไปโดยถูกต้องเที่ยงตรง ไม่ติดขัดและบรรลุถึงประโยชน์เป็นความสุขค­วามเจริญและความสงบร่มเย็น ดังที่ทุกคน ตั้งใจปรารถนา
ขออานุภาพแห่งคุณพระศรีรัตนตรัย และสิ่งศักดิ์สิทธิ์ จงคุ้มครองรักษาท่านทุกคนให้ปราศจากทุกข์ ปราศจากภัย ให้มีความสุขกาย สุขใจ ตลอดศกหน้านี้โดยทั่วกัน"
tạm dịch là:
Thân gửi đến toàn dân, trước thềm năm mới, tôi xin gửi lời chúc an lành đến với mọi người, cầu mong tất cả mọi người được hạnh phúc, an lạc và đạt được những gì mà mình mong muốn. Ước muốn của tất cả mọi người không gì khác là cầu mong cho bản thân được nhiều hạnh phúc, thịnh vượng và một đất nước hòa bình. 
Trong năm mới này, chúc cho thân và tâm của tất cả mọi người đều được an lạc và minh mẫn để thực hiện những ước nguyện của mình. Quan trọng nhất là nghĩ việc gì hay làm bất cứ việc gì, hãy nghĩ đến quần chúng, nghĩ đến đất nước. Công việc của bản thân mình hay việc của đất nước, cầu chúc tất cả đều thành tựu và thuận lợi để đem đến hạnh phúc, sự thịnh vượng và một đất nước hòa bình như ước nguyện của nhân dân.
Do nhờ oai đức và uy nghiêm của Tam Bảo, hãy hộ trì cho tất cả mọi người thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, hãy cho được sự an lạc lâu dài.
1505521_487199597983163_1387959566_n
Và cứ mỗi năm mới, toàn dân Thái rất háo hức và đón chờ hình ảnh mới nhất của Quốc vương, như là một món quà dành cho mọi người khi bước vào năm mới.
Năm 2557 - 2013 năm nay, bức hình mà Quốc vương gửi đến toàn dân là hình ảnh Quốc vương mặc bộ vest màu xanh đậm, cà-vạt màu xanh lá tươi sáng, chiếc áo sơ-mi bên trong màu trắng, đôi giày màu đen và ngài ngồi trên chiếc ghế màu trắng với phông nền là cửa sổ màu trắng trong cung điện ở Hua Hỉn. Ngoài ra, bên phải của Quốc vương còn có chú chó  Thong Đeng mặc chiếc áo màu vàng với ánh mắt nhìn xuống.

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

NHỮNG LOÀI NGỰA TRONG KINH PHẬT


distantthundermissourifoxtrotterbw2
Ngựa là một loài động vật đã gắn bó rất lâu đời với cuộc sống con người và có thể trở thành một loài gia súc nuôi trong gia đình. Đặc biệt là vào thời xưa, ngựa được xem như là một phương tiện đi lại phổ biến và thuận tiện nhất, có thể so sánh ngựa giống như một chiếc xe gắn máy thời nay, thậm chí có thể là một chiếc xe ba gác. Sử dụng ngựa để vận chuyển và đi lại, hoặc chinh chiến thì rất thuận lợi vì ngựa có sức đi đường rất bền, không sợ giá xăng leo thang, ngựa có thể băng rừng vượt suối, vượt mọi chướng ngại vật và đặc biệt có thể sản xuất thêm ra nhiều phương tiện con khác nữa.
P_04
Nhắc đến loài ngựa thì hẳn nhiên tất cả hàng Phật tử chúng ta không thể nào không nhắc đến tuấn mã Kiền-Trắc (Kaṇṭhaka) trong kinh điển Phật giáo. Tuấn mã Kiền-Trắc là một trong bảy nhân vật đồng sanh[1] cùng với đức Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta (Siddhattha) trong ngày trăng tròn tháng 4 năm 623 TCN. Vào năm Thái tử được 29 tuổi, chính ngựa Kiền-Trắc đã đưa tiễn Thái tử cùng với người hầu trung tín Xa-Nặc (Channa) trốn khỏi kinh thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu) trong đêm trăng tròn rằm tháng 6. Chính trong đêm ấy, ngựa Kiền-Trắc đã vượt một chặng đường dài 30 do-tuần, vượt qua khỏi dòng Anomā để đưa Thái tử xuất gia tầm đạo.
Sau khi Bồ-tát cắt bỏ râu tóc và gửi lại cân đai áo mão cho Xa-Nặc mang trở về trình phụ vương, ngựa Kiền-Trắc vì xúc động mạnh với nỗi chia ly ấy nên sau khi đi khuất khỏi tầm mắt của Bồ-tát, Kaṇṭhaka đã bể tim mà chết, được tái sanh lên cõi trời Đao-Lợi (Tāvatiṃsa), trở thành một vị thiên tử tên là Kaṇṭhaka với cung điện cao to lộng lẫy bằng ngọc lưu ly (veḷuriya) và đủ thứ ngọc báu.[2]

Không chỉ có duy nhất Bồ-tát Siddhattha đi xuất gia bằng ngựa, trong bộ Phật Sử còn ghi lại rất nhiều sự xuất gia vĩ đại của các vị Bồ-tát mà ngựa cũng là một trong những phương tiện thường nói đến nhất.
- Bồ-tát Maṅgala đi xuất gia bằng ngựa Paṇḍara[3].
- Bồ-tát Sujāta đi xuất gia bằng ngựa Haṃsavaha[4].
- Bồ-tát Atthadassī đi xuất gia bằng ngựa Sudassana[5].
- Bồ-tát Tissa đi xuất gia bằng ngựa Soṇuttara[6].
Đó là nói về phương diện lịch sử, ngựa là một trong những nhân tố tích cực hỗ trợ cho sự xuất thế vĩ đại của những Đấng Đại Sĩ mà sau này sẽ trở thành Bậc Chiến Thắng, xóa tan bức màn vô minh và chấm dứt mọi sanh tử luân hồi.
Hơn thế nữa, trong những bài thuyết pháp của Đức Thế Tôn, tùy theo không gian, tùy theo thời gian và tùy theo nhân duyên của người thính pháp, Thế Tôn sẽ thuyết giảng những pháp môn thích hợp nhất để tiếp độ họ. Ngài đã vận dụng thành công rất nhiều phương pháp ngôn ngữ, nhất là cách nói ẩn dụ trong những bài pháp của Ngài. Và hẳn nhiên, ẩn dụ về loài ngựa cũng nằm trong số những bài thuyết pháp của Thế Tôn để giúp cho hội chúng lãnh hội một cách dễ dàng.
Vào một thuở nọ, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, lúc bấy giờ, Luật Tạng chưa được chế định hoàn chỉnh, một số Tăng chúng phàm phu nếu muốn có thể dùng thêm bữa cơm tối và như vậy thì các vị sẽ đi khất thực về đêm. Như vậy thì thời gian tu tập còn lại không được là bao nhiêu và tôn giả Bhaddāli cũng nằm trong số đó. Nhận thấy đã đến lúc sách tấn ngài, Đức Phật đã gợi ý: “Này các tỳ-khưu, Như Lai mỗi ngày chỉ dùng một bữa, nhờ vậy Như Lai luôn cảm thấy thoải mái an lạc. Do đó, chúng Tỳ-khưu cũng nên ăn một ngày một bữa như ta để cũng được thoải mái an lạc như Ta”. Lúc đó tôn giả Bhaddāli thưa với Đức Thế Tôn rằng: mình không thể ăn với chế độ như vậy. Đức Phật im lặng không nói gì. Sau ba tháng an cư, một thời mà ngài Bhaddāli không đến hầu Đức Phật vì mắc cỡ. Tôn giả đến sám hối với Đức Phật “con đã có lỗi, đã tỏ ra bất lực trước lời dạy của Đức Thế Tôn”.
Đức phật dạy:
- Ngươi có bao giờ nghĩ rằng trong suốt thời gian qua, Như Lai và tứ chúng cũng như các tu sĩ ngoại đạo đánh giá rằng: Bhaddāli không thực hành trọn vẹn lời dạy của bậc đạo sư? Bhaddāli cho rằng: khi Như Lai bảo một vị Thánh đệ tử nằm xuống một vũng sình để làm cầu cho ta bước thì họ có từ chối hay không? Chắc chắn là không, hà huống chi Bhaddāli chưa là một vị thánh đệ tử sao lại cố tình tránh mặt ta chỉ vì e ngại lời giáo giới. Có phải là trong thời gian ấy ngươi đã sống có ích hay không? Bhaddāli hãy nhớ rằng nếu chỉ sống viễn ly mà không thành tựu giới hạnh thì đó vẫn là một nếp sống đáng trách. Còn nếp sống viễn ly mà thành tựu cả giới hạnh, thiền định, thậm chí chứng ngộ thánh quả thì là một nếp sống đáng được tán thán.
Khi được nghe nói như vậy, Bhaddāli đã hỏi Đức Phật tại sao chư Tăng không nhắc nhở cho mình như Phật đã nhắc nhở? Đức Phật giải thích rằng điều đó chủ yếu xuất phát từ thái độ của đương sự. Tăng chúng sẽ không có hứng thú giáo giới một Tỳ-khưu né tránh lỗi lầm của mình và không biết phục thiện. Nếu một Tỳ-khưu phạm tội vẫn còn có chút niềm tin, tàm, quý và trí tuệ thì dù gì chư Tăng cũng sẽ nhắc nhở như người ta cố gắng bảo vệ con mắt còn lại của một người chột.
Tiếp theo ngài Bhaddāli đã hỏi Đức Phật một câu hỏi mà Ngài Xá-Lợi-Phất cũng có lần hỏi là: tại sao các học giới chưa được ban hành hoặc chỉ được ban hành một ít, số lượng thánh Tăng lại đông đảo hơn là khi các học giới đã được ban hành đầy đủ. Đức Phật giải thích ngắn gọn rằng: chính vì nội bộ Tăng chúng quá phức tạp thì ta mới ban hành các học giới. Lại nữa, buổi sơ thời Giáo pháp khi nào chúng Tỳ-khưu chưa có danh vọng và hạ lạp thì lòng tham luyến cũng sẽ ít hơn.
Đức Phật ví dụ một con tuấn mã chỉ có giá trị khi được huấn luyện thuần thục xứng đáng khi đã được huấn luyện qua nhiều giai đoạn như là huấn luyện cho nó quen với dây cương, quen với yên ngựa, quen với sự diễn hành, đi vòng quanh, đi đầu móng chân, chạy phi, hí, các trò chơi vương giả, vương lực, tối thượng tốc lực, tối thượng nhanh nhẹn, tối thượng thiện hành, khi đã thuần, thì sẽ tập cho nó đeo đồ trang sức để trở thành báu vật của vua. Cũng như thế ấy, vị Tỳ-khưu thành tựu mười pháp vô học: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát thì sẽ thành ruộng phước vô thượng ở đời.[7] 
horse_15
Vì hạnh phúc và an lạc cho nhân thiên, Thế Tôn du hành khắp nơi để thuyết giảng pháp bất tử đến với những chúng sanh hữu duyên giác ngộ. Ngài là vị thầy của trời người không ai sánh bằng nên Ngài biết cách nào, phương pháp nào để hướng dẫn hàng đệ tử thực hành theo một cách dễ dàng và dễ hiểu. Chúng ta sẽ bắt gặp nhiều bài kinh mà Thế Tôn thuyết giảng về cách dạy ngựa rải rác trong kho tàng Pháp Bảo. Điển hình như là:
Một lúc nọ, có chàng thanh niên tên Kesi, là người huấn luyện ngựa, đi đến yết kiến với Thế Tôn và Đức Thế Tôn đã hỏi thanh niên Kesi về phương pháp huấn luyện ngựa như thế nào. Được hỏi như thế, thanh niên Kesi đã trả lời: “Bạch Thế Tôn, con thường chia ngựa ra làm bốn loại:
1. Loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng.
2. Loại được nhiếp phục bằng lời thô ác.
3. Loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng lẫn thô ác.
4. Loại bất trị, không thể nhiếp phục nổi. Với loại này thì chỉ còn cách đem giết thịt để khỏi mất danh dự cho gia đình thầy của con”.
Trả lời xong, Kesi bạch hỏi Phật về phương pháp dạy dỗ hàng môn đệ của Ngài. Bậc Đạo Sư đáp rằng, Ngài cũng chia hàng đệ tử ra làm bốn loại:
1. Hạng người được dạy dỗ bằng lời mềm mỏng: khi được chỉ dạy về các việc thiện của thân, khẩu, ý cùng các quả báo tương ứng ở cõi trời, người, họ liền tinh cần tu tập.
2. Hạng người được dạy dỗ bằng lời cứng rắn: khi được chỉ dạy về các hành động bất thiện của thân, khẩu, ý, cần nên tránh vì chúng sẽ đưa đến quả báo tương xứng nơi ba đường ác.
3. Hạng người được dạy dỗ bằng lời mềm mỏng lẫn cứng rắn: bao gồm cả hai lối trên.
4. Hạng người bất trị, không thể dạy dỗ bằng lời mềm mỏng hay cứng rắn, thì đành phải giết đi.
Nghe đến đây, Kesi hốt hoảng hỏi:
- Nhưng bạch Thế Tôn, sát sanh không xứng đáng với Thế Tôn.
- Này chàng trai, trong Giáo pháp của Ta, giết đi chỉ có nghĩa là con người này, trong Giới luật của bậc Thánh, bị Như Lai nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới, bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới.[8]
Một con ngựa muốn được vua trọng dụng, cưỡi dùng thì phải được huấn luyện và trở nên kỷ xảo, chọn lọc kỹ càng. Và để trở thành một con ngựa thuần thục, hiền thiện của vua, xứng đáng cho nhà vua, là vật sở hữu của vua, được xem là biểu tượng của vua.
Với một vị Tỳ-khưu cũng như thế, nếu thành tựu với bốn pháp: trực tánh, tốc độ, kham nhẫn và thiện ngôn, vị ấy sẽ trở thành bậc xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được chắp tay, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời.[9]
Trong quá trình huấn luyện ngựa, mỗi con ngựa sẽ có quá trình huấn luyện khác nhau tùy theo tính tình khó dạy hay dễ dạy của con ngựa ấy. Căn cứ vào bốn cách dạy ngựa, đức thế tôn đã thuyết về bốn hạng người cũng tương tự như thế ở trên thế gian này.
1. Hạng ngựa vừa thấy bóng cây gậy thúc ngựa đã chạy, như người vừa nghe nhắc rằng có ai đó mệnh chung liền tỉnh ngộ tu tập và đạt kết quả tốt.
2. Hạng ngựa không sợ bóng cây gậy thúc ngựa, chỉ sợ gậy thúc vào lông, giống như người vừa thấy ai đó mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
3. Hạng ngựa không sợ bóng cây gậy thúc ngựa, không sợ bị gậy đâm vào lông mà phải đợi gậy đâm vào thịt mới sợ, như hạng người khi tận mắt thấy thân nhân mình mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
4. Hạng ngựa đợi đến lúc gậy thúc thấu xương mới sợ, như hạng người khi tự thân bị bệnh khổ mới tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.[10]

Ngựa được điều phục sẽ trở thành ngựa có giá trị, xứng đáng để đem đi chiến đấu hoặc bán với giá cao. Đối với bậc đã điều phục được bản thân mình, các vị ấy sống không phóng dật, sống tỉnh thức với nội tâm thanh tịnh, nếu so với những phàm phu tục tử, vô văn rỗi nghề thì các ngài được ví như đang ngồi trên một con tuấn mã phi nước đại bỏ lại sau lưng những con ngựa què.
Tinh cần giữa phóng dật
Tỉnh thức giữa quần mê
Bậc trí như tuấn mã
Bỏ xa con ngựa què.[11]
Hay là:
Ai chận được phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,
Kẻ khác, cầm cương hờ.[12]
Chúng ta thường hay nghe mọi người nói là ngu như bò hay là lỳ như trâu, còn với loài ngựa thì chỉ biết là nhanh như ngựa chẳng hạn thì đó không có gì là có ý chê bai hay mỉa mai. Tuy nhiên, nếu bị ví như là một con ngựa thì hẳn nhiên thật là đau khổ, bởi vì đó là những loài ngựa bất trị, khó dạy. Đức Phật còn chia ngựa thành tám loại, tương ứng với tám hạng người hung dữ, bất trị. Đó là những vị nào, khi được thầy tổ, huynh đệ, bạn đồng phạm hạnh nhắc nhở và phê bình, hay chỉ cho khuyết điểm trong các cuộc họp mặt thì lại tỏ thái độ bất mãn chống đối... thay vì tri ân người chỉ dạy và cố gắng sửa đổi.
1. Hạng người ưa chối cãi, khi bị các vị khác buộc tội thì tránh né vấn đề như là không nhớ. Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó đi lùi với cái lưng làm cho cái xe chạy vòng lại.
2. Hạng người chê bai cử tội mình, cho là ngu dốt, không xứng đáng để mắt tới, khi bị các vị khác buộc tội thì chất vấn lại những người buộc tội mình: "thầy lấy quyền gì mà nói, này kẻ ngu, không thông minh? Tại sao thầy nghĩ rằng thầy phải nói? " ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi lại, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe.
3. Hạng người thích trả đũa, bới móc trở lại lỗi lầm của người cử tội mình, khi bị các vị khác buộc tội thì nói rằng "thầy cũng phạm tội tên là như vậy. Vậy thầy hãy phát lộ trước". Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi xe và dẫm nát gọng xe.
4. Hạng người đem lòng oán hận, thù vặt người chỉ lỗi mình, khi bị các vị khác buộc tội thì liền tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng dẫn câu chuyện ra ngoài và biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền đi vào con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng.
5. Hạng người tỏ thái độ giận dữ, khoa tay múa chân, la hét và thốt ra lời thô ác giữa hội chúng khi bị các vị khác buộc tội. Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền trườn đứng phía thân trước và đạp lên không với chân trước.
6. Hạng người không sợ lầm lỗi, chẳng biết kiêng nể ai, bỏ ngang cuộc họp mà đi ra ngoài, khi bị các vị khác buộc tội thì không để ý đến chúng tăng, không để ý đến các tỷ-kheo buộc tội, với tội phạm và như một người bị xúc phạm, vị ấy đi chỗ nào vị ấy muốn. Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe, không để ý đến cây roi, lấy răng nghiến hàm thiết ngựa, và đi chỗ nào nó muốn.
7. Hạng người cứ đứng lầm lì, không thèm ừ hử, xác định xem khuyết điểm vừa nêu là đúng hay sai. Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ.
8. Hạng người bướng bỉnh không muốn ai đụng chạm đến mình, nên khi bị phê bình liền cởi áo vứt ra trước cuộc họp, lớn tiếng dọa từ bỏ đoàn thể để... để đổ vạ cho người xây dựng mình. Ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền tréo lại hai chân trước, tréo lại hai chân sau và quỵ xuống bốn chân tại đấy.[13]
Qua những gì đã được trình bày và dẫn chứng từ trong kinh điển, chúng ta thấy rằng ngựa là loài động vật hoang dã nhưng được khéo huấn luyện, khéo điều phục thì cũng sẽ trở thành một con tuấn mã khỏe mạnh, hữu ích và đem đến gia trị cho người sử dụng. Bằng nhiều phương pháp, bằng nhiều phương tiện ngôn ngữ, Đức Thế Tôn đã sử dụng hình ảnh loài ngựa để khuyên dạy các hàng đệ tử từ việc tự điều phục mình cho đến cách đối nhân xử thế như thế nào cho phải lẽ để không bị mang tiếng là người khó dạy, kẻ bất trị hoặc thậm chí bị đem giết bỏ.
Với những gì đã tìm tòi được xin chia sẽ đến toàn thể quý vị như là một món quà xuân chào mừng năm mới, Xuân Giáp Ngọ 2014. Hy vọng rằng món quà Pháp này sẽ giúp ích cho tất cả mọi người trên bước đường tu tập và để tự nhận ra bản thân mình đang là một trong những loại ngựa nào trong kinh điển của Đức Thế Tôn.
TỲ-KHƯU ĐỊNH PHÚC




[1] BvA.275. Bảy nhân vật đồng sanh là: 1. Công chúa Yasodharā Bhaddakaccānā, 2. Hoàng tử Ānanda, 3. Quan thận cần Kāḷudāyi, 4. Người hầu cận Channa, 5. Ngựa Kaṇṭhaka, 6. Cội đại thọ Bồ-đề, tên thật là cây Assattha, 7. Bốn hầm châu báu.
[2] Xem thêm Kaṇṭhakavimānavatthu (Vv.118). Về sau, thiên tử Kaṇṭhaka có dịp được yết kiến Đức Phật, nghe pháp và chứng đắc quả thánh nhập lưu (VvA.317)
[3] BvA.116
[4] BvA.168
[5] BvA.172
[6] BvA.189
[7] M.i.437 (Trung Bộ Kinh – Kinh Bhaddāli).
[8] A.ii.112 (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Bốn Pháp, Phẩm Kesi, Kinh Kesi).
[9] A.ii.113 (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Bốn Pháp, Phẩm Kesi, Kinh Tốc Độ).
[10] A.ii.114 (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Bốn Pháp, Phẩm Kesi, Kinh Gậy Thúc Ngựa).
[11] Dhp.29
[12] Dhp.222
[13] A.iv.14 (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Tám Pháp, Phẩm Lớn, Kinh Ngựa Chưa Điều Phục).

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

GOOD BYE 2013

Bye-Bye-2013-Welcome-2014-Happy-New-Year-hd-Wallpaper-free-download3
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa thôi sẽ bước sang một năm mới. Good bye 2013.
Thật tình mà nói với cái năm 2013 này dường như chẳng có chút tình cảm gì với nó. Mình chẳng làm được gì, thậm chí mất còn nhiều hơn là được. Nhưng mà dù sao, Xuân, Hạ, Thu, Đông rồi lại Xuân, thời gian trôi qua theo định luật của nó, mình làm được gì hay đánh mất gì thì sao trách nó được. 
Vậy là thêm một năm trên đất khách nữa. Đến những ngày cuối cùng của năm mà còn phải vương mang cái nghiệp. Dường như nó luôn rình rập mình và có thể ập đến tấn công mình bất cứ lúc nào.
Ai cũng nói là sẽ sửa đổi, sẽ hoàn thiện mình trong năm sau. Sang năm mới làm cái mới. Với mình thì never, bây giờ mình không sửa được thì đợi đến khi nào mới sửa.
Hy vọng mọi chuyện không hay đã xảy ra, những chuyện bất mãn đã và đang hiện diện trong tôi, hãy cho nó tan biến theo tờ lịch cũ để chuẩn bị sang cuốn lịch mới.
Cầu mong cho tất cả huynh đệ, người thân, bè bạn và tất cả mọi người quen cũng như không quen được một năm mới thật nhiều niềm vui và tràn đầy phước thiện.
HAPPY NEW YEAR 2014

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

Vẻ đẹp kỳ diệu của hoa tuyết

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng nhìn thấy hình ảnh những hoa tuyết bằng giấy được dán lên tường trang trí trong dịp lễ hội mùa đông. Kích thước của mỗi hoa tuyết chỉ cỡ 1 mm, là những hình đối xứng lục giác rất phức tạp nhưng cũng rất hoàn hảo, không lẽ có những hoa tuyết như thế này thật sao?
Vì nước có công thức phân tử là H2O, nên xung quanh mỗi nguyên tử Oxy có hai nguyên tử Hydro. Chính tính đối xứng lục giác của các tinh thể nước ở thể rắn đã làm cho hoa tuyết cũng có tính đối xứng lục giác.
Vì sao hoa tuyết có những hoa văn cầu kỳ, phức tạp?
Khi các hạt băng li ti kết hợp với nhau, chúng tạo thành một hình trụ đối xứng lục giác. Khi những tinh thể hình trụ này trở nên ngày càng to lớn hơn, chúng “mọc” thêm 6 nhánh từ 6 đỉnh của lục giác. Các nhánh này cũng là những hình trụ lục giác (do cũng là các tinh thể băng), nên từ đó lại mọc ra các nhánh phụ nữa do cùng nguyên nhân như trên. Rồi từ các nhánh phụ lại mọc ra các nhánh con nữa, và cứ thể tiếp tục…
Điều cuối cùng cần giải thích nữa là vì sao 6 nhánh của một hoa tuyết gần như hoàn toàn giống nhau, trong khi không thể tìm được hai hoa tuyết hoàn toàn giống nhau.
Trong quá trình các nhánh được tạo thành thì tinh thể di chuyển không ngừng trong đám mây, đến những nơi có nhiệt độ và độ ẩm (hai yếu tố quan trọng nhất quyết định hình dạng của hoa tuyết) khác nhau. Tuy nhiên, vì tinh thể rất nhỏ bé, nên dù nó có đi đến đâu thì cả tinh thể vẫn chịu cùng một nhiệt độ và độ ẩm như nhau, và do đó mà các nhánh phát triển đồng đều nhau, tạo nên những hình dạng giống nhau ở cả 6 nhánh.
Và cũng vì các tinh thể di chuyển một cách ngẫu nhiên, nên không có hai tinh thể nào trải qua cùng một điều kiện nhiệt độ và độ ẩm như nhau. Kết quả là không có hai hoa tuyết nào hoàn toàn giống nhau.
Dưới đây là một số hình ảnh hoa tuyết do nhiếp ảnh gia người Nga Alexey-Kljatov thực hiện:





















Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Giải mã quyền năng kỳ lạ của nhà vua Thái Lan


Năm 1992, vài giờ sau khi yết kiến nhà vua, Thủ tướng Thái Lan và đối thủ cùng tuyên bố rời khỏi chính trường. Quân đội buông vũ khí. Người biểu tình rút lui.

Sau nhiều ngày chìm trong khói lửa, hơi cay, đường phố thủ đô Bangkok ngày 5/12 bỗng yên ả lạ thường. Ở nhiều nơi, xe ô tô không hoạt động, không có dấu hiệu nào của những cuộc biểu tình chống chính phủ vốn đã gây náo loạn suốt hơn 1 tuần trước đó. Quốc kì Thái Lan tràn ngập.
Người dân, đa phần đều mặc áo vàng, đổ ra phố, ngồi dọc 2 bên đường. Họ chờ đợi hàng giờ chỉ để được nhìn thấy xe ô tô của nhà vua Bhumibol Adulyadej cùng đoàn hộ tống đi qua trong ngày sinh nhật lần thứ 86 của ông. Họ vẫy cờ, chắp tay, rưng rưng nước mắt và hô vang “Đức vua vạn tuế”.
 1
Ở quốc gia hơn 62 triệu dân này, những bức chân dung to hơn người thật của nhà vua được treo tại phần lớn các gia đình, các sảnh lớn, toà nhà văn phòng, nút giao thông như một minh chứng cho vị trí của ông trong đời sống xã hội.
Mỗi năm đi 30.000 dặm gặp nhân dân
Nhà vua Thái Lan được người dân nước này tôn kính như một vị Phật sống. Họ gọi ông bằng nhiều cái tên trìu mến nhưng không kém phần ngưỡng vọng: Vị chúa ngự phía trên chúng con, Vua của nhân dân... Sự tôn kính này không phải bắt nguồn từ những bí ẩn hay chịu sự tác động của một thế lực nào khác, mà từ chính thực tế đời sống.
Năm 18 tuổi, nhà vua Bhumibol lên ngôi sau cái chết bất ngờ của anh trai. Chưa từng được học về trách nhiệm của tầng lớp đế vương, song vị vua trẻ đã thề "cai trị quốc gia bằng sự công bằng, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân". Và ông đã chứng minh rằng đó không chỉ là lời hứa suông.
Khi còn trẻ, sức khoẻ còn dồi dào, trung bình mỗi năm, nhà vua Bhumibol chỉ ở trong cung điện khoảng 7 tháng. Thời gian còn lại ông thường xuyên đi thị sát, tới những nơi xa xôi hẻo lánh, nghèo khó nhất Thái Lan, trò chuyện với người dân, xuống ruộng với họ, hoà mình vào với cuộc sống ở đó.
Quãng đường “rong ruổi” của ông mỗi năm trung bình khoảng 30.000 dặm - hầu hết đều trên chiếc xe jeep tự lái. Trong tâm trí của những người dân Thái, nhà vua là một người thân thiện, với cuốn sổ và chiếc bút trên tay, luôn lắng nghe và tràn đầy ý tưởng mới.
 2
Nhà vua Thái Lan nói chuyện với người dân nghèo trong một chuyến thị sát của mình.
Biểu tượng trường tồn qua thời gian
Ông đã biến cung điện Chitralada rộng lớn của mình thành tổ hợp trang trại, cánh đồng, nhà máy chế biến - nơi ông có thể tiến hành nhiều thí nghiệm và thực hiện hàng loạt các đề án về nông nghiệp, thuỷ lợi. Từ đây, hơn 3.000 đề án do chính nhà vua khởi xướng đã được triển khai trên toàn quốc, cải thiện điều kiện sống của dân nghèo ở nông thôn.
Văn phòng Ban phát triển dự án Hoàng gia cũng đã được xây dựng và thành công trong việc huy động ngân sách cũng như nguồn nhân lực từ phía các cơ quan chính phủ, nhằm thực hiện các dự án do Hoàng gia đề xuất - đa phần là dự án thuỷ lợi quy mô lớn. Thời điểm năm 1998 - 2003, khi chính sách phát triển của nhà nước thất bại, các tổ chức phi chính phủ đang có nhiều hoạt động, nhà vua cũng đã thiết lập tổ chức phi chính phủ Hoàng gia nhằm thúc đẩy nền kinh tế tự cung tự cấp và được số đông chấp thuận, làm theo.
Không những thế, vua Bhumibol cũng đã hỗ trợ chính phủ trong việc đưa ra hàng loạt giải pháp cho các vấn đề, từ giảm lũ lụt, hạn hán tới ùn tắc giao thông và phúc lợi xã hội.
Suốt 6 thập kỉ trị vì, nhà vua Bhumibol đã chứng kiến 17 cuộc đảo chính và 26 đời thủ tướng, kinh tế quốc gia phát triển, còn giá trị cộng đồng và gia đình bị suy giảm, tham nhũng trở thành một phần của đời sống. Dù thế, trong tâm niệm của người Thái Lan, nhà vua vẫn là hình ảnh mẫu mực của triết lý đạo Phật, chính trực, vô tư, tách mình khỏi đầy rẫy những vết nhơ và cám dỗ của cuộc sống.
Đối với người dân Thái Lan, nhà vua là một biểu tưởng của sự ổn định, một huyền thoại về nhân cách mà họ cảm thấy hết mức tin tưởng, một vị vua đáng kính trọng vì đã cống hiến cả cuộc đời mình để phục vụ đất nước.
“Quyền lực dự phòng” trong chính trường bất ổn
Mặc dù theo luật pháp, nhà vua phải đứng ngoài các vấn đề về chính trị, và quyền lực của ông chỉ mang tính biểu tượng, song bằng bằng sự công tâm và trung lập của mình, ông đã không ít lần thành công trong việc làm cố vấn, trung gian hoà giải những bất hoà chính trị liên tiếp xảy ra tại quốc gia này.
Một trong những hình ảnh của nhà vua Bhumibol để lại ấn tượng nhất với người dân Thái Lan và cả thế giới là sự xuất hiện trực tiếp trên truyền hình, trong cuộc nói chuyện với Thủ tướng Suchinda Kraprayoon và chính trị gia đối lập Chamlong Srimuang - hai nhân vật trung tâm gây ra cuộc biểu tình bạo lực khiến nhiều người dân thiệt mạng năm 1992.
Vua Bhumibol đã kêu gọi kiềm chế và hợp tác "vì đất nước của tất cả chúng ta chứ không phải vì đất nước của hai vị. Cuộc khủng hoảng không chỉ ảnh hưởng đến mọi người ở Bangkok, mà còn ảnh hưởng tới cả nước. Nếu như Bangkok bị thiệt hại, cả nước cũng sẽ bị thiệt hại. Không ai có thể hát khúc ca khải hoàn trên đống đổ nát của đất nước”. Vài giờ sau đó, Thủ tướng Kraparayoon và đối thủ đều đồng loạt tuyên bố rời khỏi chính trường, quân đội buông vũ khí, người biểu tình cũng rút lui.
 3 (1)
Nhà vua Bhumibol triệu kiến Cựu Thủ tướng Thái Lan Suchinda Kraprayoon (vest đen) và Tướng Chamlong Srimuang (áo xanh) để hoà giải hai bên.
Cựu Thủ tướng Thái Lan Prem Tinsulanonda, người trực tiếp theo dõi cuộc nói chuyện này nhớ lại: "Ngài không can thiệp cho tới khi chính phủ khi đó không thể nào kiểm soát được tình hình. Trong thời khắc vô cùng khủng hoảng, mọi người đã tìm tới ngài để kêu gọi giúp đỡ ngăn chặn đổ máu. Ngài đã mang lại hoà bình bằng cách đưa ra những lời khuyên".
Trong khi đó, cựu Thủ tướng Thái Lan Anad Panyarachun đã miêu tả quyền năng của nhà vua Bhumibol như một thứ "quyền lực dự phòng", luôn được sử dụng một cách tiết kiệm nhưng đầy khôn ngoan, đóng vai trò quyết định trong việc duy trì sự ổn định của quốc gia. Quyền lực này, theo ông Panyarachun, được tích luỹ trong suốt cuộc đời cống hiến cho đất nước của nhà vua, là thứ không thể truyền lại, cũng không thể kế thừa được.
Ông Sompop Louilarpprasert, thợ may của nhà vua tâm sự rằng: "Tôi muốn may xiêm y cho đức vua khi ngài 90 tuổi, 100 tuổi hoặc thậm chí là lâu hơn nữa". Ông Sompop là người đã may chiếc áo khoác màu hồng mà nhà vua mặc trong một dịp rời khỏi bệnh viện nơi ông điều trị từ năm 2009. Chỉ vài giờ sau đó, những chiếc áo màu hồng giống màu áo nhà vua đã được bán ở hàng nghìn địa điểm khác nhau trên khắp quốc gia. Có ngày, cả đường phố tràn ngập màu áo hồng của vua.
 4
Người Thái mặc áo hồng, thắp nến cầu chúc cho sức khỏe nhà vua trước cửa bệnh viện nơi ngài điều trị
Những người dân Thái Lan nói rằng họ coi màu hồng gắn liền với sự phục hồi sức khoẻ của vua Bhumibol và rằng nó sẽ mang tới cho ông sự may mắn. Bằng cách mặc màu hồng, những người dân đã cầu chúc cho ông - vị thủ lĩnh tinh thần - sẽ khoẻ mạnh và sống thật lâu với họ.

(My Lan - theo Trí Thức Trẻ) - soha.vn

Tổ chức Giáo Hội Phật giáo tại Thái Lan.


Monks_in_Wat_Phra_Singh_-_Chiang_Mai
Hiện nay tại Thái Lan có hai chi phái đều thuộc hệ phái Phật giáoTheravada, đó là chi phái Maha Nikaya và chi phái Dhammayut Nikaya. Đến nay chi phái Maha Nikaya là phái lớn có dấu tích là phái truyền thừa trực tiếp đến việc thành lập Giáo Hội Phật giáo Thái Lan xuất phát ban đầu do Tăng đoàn Phật giáo Lanka truyền sang vào thời kỳ Sukhothai; chi phái Dhammayut thì do Hoàng tử H.R.HMongkut thành lập năm 1833, về sau ngài lên ngôi kế vị Vua cha; chi phái này nhỏ hơn phái Mahanikaya, dành riêng cho những vị nghiêm trì giới luật. Cả hai chi phái đều chịu sự chỉ đạo chung của Hội đồng Tăng Già Tối cao của Giáo Hội và Đức Tăng Thống, do đó những hình thức canh tân biệt truyền trong nội bộ các chi phái hiện nay phần nào được giảm đi đáng kể.
Ở các thế kỷ trước, Giáo Hội Phật giáo Thái Lan chịu sự quản lý của Sắc luật Giáo Hội được ban hành lần đầu tiên vào năm 1902, Sắc luật thứ hai của Giáo Hội ban hành năm 1941, và Sắc luật của Giáo Hội hiện nay được ban hành vào năm 1962 và đã được tu chính vào năm 1992. Có hai chi phái được luật pháp công nhận đều thuộc hệ phái Phật Giáo Đại thừa từ Trung Quốc và Việt Nam truyền sang, hai chi phái nầy cùng hoạt động với hệ phái Phật Giáo Theravada (gồm hai chi phái Maha Nikaya và Dhammayut đã nói trên). Cả hai hệ phái đều đặt dưới sự lãnh đạo chung của Đức Tăng Thống (Sangharaja) do Quốc vương ban chiếu chỉ sắc phong thông qua đề xuất của hệ phái Theravada; Đức Tăng Thống theo qui định tại vị suốt đời; giúp việc cho Đức Tăng Thống có Hội đồng Tăng già Tối cao (Mahathera Samakhom)cử ra một Ban thường trực gồm 8 vị ủy viên và một Hội Đồng Trị Sự gồm 12 vị ủy viên do Đức Tăng Thống bổ nhiệm.
Đứng đầu Hội đồng Tăng Tối cao của Giáo Hội là Đức Tăng Thống, ngài có nhiệm vụ và quyền hạn ban hành sắc luật của Giáo Hội, phê chuẩn ban hành các điều lệ, nội quy và bổ nhiệm các thành viên quản lý điều hành Giáo Hội do hai các hệ phái đề cử.  Công tác quản lý điều hành Giáo Hội được giao cho một Văn phòng Phật giáo Quốc gia phụ trách, văn phòng này đảm nhiệm vai trò của một  Ban thư ký Hội đồng Tăng già Tối cao của Giáo Hội. Văn phòng Phật giáo Quốc gia có trách nhiệm liên lạc và điều phối nhằm đạt hiệu quả cao nhất mọi hoạt động Phật sự của Giáo Hội với Nhà nước. Văn phòng này còn có nhiệm vụ chăm sóc chư tăng và các chùa trên cả nước khi có nhu cầu cần đến sự tài trợ từ ngân sách nhà nước và trợ cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách chính phủ cho những tăng sĩ đảm đương công tác hành chánh phục vụ giáo hội.
a6IlF
Theo qui định, Giáo hội Thái Lan được tổ chức rất qui củ. Hằng ngàn tự viện và khoảng 300 ngàn vị  sư ( tỳ kheo và sadi) đặt dưới sự quản lý tập trung của Giáo Hội, luôn luôn được Nhà nước tôn trọng và hỗ trợ. Trong Giáo hội có sự thống nhất về Tăng sự, Giáo dục và Nghi lễ. Với một hệ thống lãnh đạo và quản lý tập trung, mọi hoạt động của Giáo hội luôn được sự giám sát chặt chẽ ; kỷ luật, kỷ cương được bảo đãm duy trì; bên cạnh đó còn có một kênh truyền thông liên lạc của chính quyền từ trung ương  đến cơ sở khắp các tỉnh thành trên cả nước có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi và giám sát mọi hoạt động của Phật giáo để kịp thời hổ trợ giúp đở. Từ thực tế này, chứng minh rằng, bao giờ tổ chức Giáo hội Phật giáo được sự hợp tác chặc chẽ của chính quyền nhà nước các cấp, thì lúc bấy giờ Phật giáo có cơ duyên thuận lợi được duy trì và phát triên bền vững và nhờ vậy Giáo Hội mới thực hiện xuất sắc vai trò của Phật giáo trong sự nghiệp đoàn kết nhân dân và công tác bảo vệ an ninh quốc gia. Tuy nhiên, việc quản lí Giáo hội quá phụ thuộc vào một cơ chế lãnh đạo tập trung như thế, xét ra, lắm lúc khó có thể thỏa mãn kịp thời yêu cầu khẩn thiết và thích ứng với hòan cảnh xã hội đang nhanh chóng đổi thay.
Hiện nay Phật giáo Thái Lan đang cần có một sắc luật đổi mới của Giáo Hội, một sắc luật nhằm cải cách Giáo hội đang được dự thảo và đem ra thảo luận. Cơ chế quản lý điều hành chung của Gíao hội sẽ được thay đổi theo cơ chế chấp hành được gọi là Cơ chế Đại chúng (Mahaganissra).
* Trích phát biểu của ngài Hòa thượng GS.TS Thepsophon Dhammakosajarn, Viện trưởng trường Đại học Mahachulalongkorn Thai Lan, đọc trong hội nghị Quốc tế các quốc gia theo hệ phái Theravada tại Srilanka ngày 15/01/2003
HT Thiện Tâm dịch
Nguyên tác: Buddhism in Contemporary Thailand
Theo:  Phật giáo Nguyên thủy số 10