Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Nói lời lợi ích


Kinh Pháp Cú, kệ số 100, ghi lời Phật khuyên nhắc người xuất gia về ý nghĩa lợi ích của lời nói: Dầu nói ngàn ngàn lời, Nhưng không gì lợi ích, Tốt hơn một câu nghĩa, Nghe xong, được tịnh lạc.
Lời Phật là bài học lớn về lời nói dành cho hàng xuất gia. Người xuất gia không cần phải nói nhiều nhưng cần phải nói lời lợi ích, phải nói những điều đưa đến tịnh lạc. Tịnh lạc cho mình và cho người khác. Tịnh lạc là sự vắng mặt tham, sân, si, vắng mặt các yếu tố gây phiền não khổ đau. Mục đích tu học của người xuất gia là nhằm diệt trừ tham, sân, si – gốc rễ của mọi phiền não khổ đau – và hỗ trợ người khác khắc phục tham, sân, si. Để thực hiện điều đó thì người xuất gia cần phải có chánh kiến (sammà-ditthi) và chánh tinh tấn (sammà-viriya), nghĩa là người xuất gia cần phải xem xét cân nhắc cho thật kỹ mọi ý nghĩ, lời nói hay việc làm của mình sao cho một mặt, không để cho tham, sân, si có cơ hội sinh khởi và tăng trưởng; mặt khác, khiến cho tham, sân, si đi đến giảm thiểu và tiêu trừ. Làm được như thế thì mọi nỗ lực của người xuất gia mới có lợi ích, mới đưa đến tịnh lạc. Tịnh lạc không chỉ cho mình, mà còn cho người khác nữa.
Nhưng lời nói gì khiến tham, sân, si không có điều kiện dấy khởi và tăng  trưởng, khiến cho cuộc sống được tịnh lạc? Theo lời Phật thì đó là không nói những điều phù phiếm vô ích, xuất phát từ tâm tư thất niệm vọng động, khiến cho các bất thiện pháp như dục tâm, sân tâm, hại tâm có cơ hội sinh khởi và tăng trưởng; chỉ tập trung nói những điều chính đáng lợi ích, xuất phát từ chánh niệm, có khả năng loại trừ tâm tham dục, tâm sân hận, tâm não hại; khuyến khích tâm vô tham, tâm vô sân, tâm bất hại. Kinh Tăng Chi Bộ thuật câu chuyện Phật  khuyên  nhắc  người  xuất  gia nên  chú  tâm  nói những gì và không nói những gì:
“Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền định đứng dậy, đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang được bàn đến giữa các Thầy?
- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm… các câu chuyện về hữu và phi hữu.
- Này các Tỷ-kheo, thật  không  xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác, như câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu. Này các Tỷ- kheo, có mười đề tài nói chuyện này. Thế nào là mười?
Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.
Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng của mình đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo”[1].
Như vậy, Đức Phật đã chỉ rõ một loạt các vấn đề “thế sự”, xem chúng là phù phiếm, không lợi ích, phi pháp, phi luật và khuyên người xuất gia không nên luận bàn. Đây là các đề tài thuộc  lãnh vực thế  gian mà người xuất  gia được  khuyên  không  nên  luận  bàn, “không nên hành trì”[2], vì theo lời Phật, “chúng không đưa đến mục đích, không phải là căn bản của Phạm hạnh, không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”[3]. Chúng  không  phải là “hành xứ” (phạm vi nên bàn luận) của người xuất gia. Hơn thế, theo  sự giảng  giải của Tôn giả Sàriputta  thì các bất thiện pháp sẽ có cơ hội tăng trưởng và các thiện pháp sẽ thối giảm, nếu tham gia bàn luận chúng [4]. Nói cách khác, tham, sân, si – gốc rễ của thị phi, tranh chấp, xung đột, chiến tranh và khổ đau – sẽ dấy khởi và phát triển trong con người một khi các diễn biến của thời thế trở thành đề tài của việc ngồi lê đôi mách.
Đức Phật tránh cho các học trò mình khỏi mắc phải các sai lầm đáng tiếc do sự lôi cuốn tế nhị của thời thế bằng cách tập cho họ một thói quen sinh hoạt hết sức căn bản nhằm  hạn chế tối đa các nguyên  nhân “tán tâm tạp thoại” dẫn đến tranh luận, tranh chấp, cãi vã và xung đột, đôi khi bắt nguồn  từ những  chuyện không đâu vào đâu. Ngài khuyên các Tỷ-kheo không nên mất thì giờ vào việc luận bàn các vấn đề thời thế như chính trị, kinh tế… Thay vào đó, Ngài khuyên họ nên chuyên tâm  thực hành  thiền  định hoặc tập  trung  thảo  luận Chánh pháp trong trường hợp gặp gỡ hay ngồi lại với nhau. Ngài nhấn mạnh: “Này các Tỷ-kheo, khi các ngươi hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: thảo luận Chánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh”[5].
Thảo luận  Chánh  pháp  ở đây là đồng  nghĩa  với chánh  ngữ  (sammà-vàcà)  hay bàn  luận  những  vấn đề liên hệ đến mục tiêu thoát  khổ mà kinh Phật gọi là “những lời nói khai tâm, đưa đến nhứt hướng yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận, định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận”[6]. Theo sự giải thích của Sàriputta  thì đó là những  lời nói chơn chánh, có ý nghĩa, thuộc  Chánh pháp, thuộc  về luật, thuận  lý, có ích lợi mà nếu hành trì thì các thiện pháp  sẽ tăng trưởng, các bất thiện pháp suy giảm [7]. Nói khác đi, vô tham, vô sân, vô si – nền tảng của giải thoát an lạc – sẽ sinh khởi và phát triển ở trong con người, nếu lời nói và câu chuyện của người ấy nằm trong khuôn khổ Chánh pháp hay lời Phật dạy.

Đức Phật là bậc Đạo sư rất cẩn trọng chu đáo trong việc hướng dẫn tâm thức các học trò mình thông qua các đề tài thảo luận. Ngài xem thế sự là vòng thị phi, sinh diệt nhất thời, không thích hợp và cũng không đáng cho người xuất gia bận tâm bàn tán hay tranh luận. Ngài không muốn các học trò mình rơi vào ý tưởng mơ hồ, muốn “cải tạo xã hội” hay “chuyển hóa cuộc đời” trước khi phải làm điều ấy đối với chính mình. Dưới con mắt giác ngộ của Ngài, thế sự thăng trầm là chuyện không lạ và đã có quá nhiều người quan tâm. Nhưng hãy cứ để người khác quan tâm thời thế, còn Tỷ-kheo thì làm phận sự của mình. Bậc Đạo sư không muốn các học trò mình bị cuốn vào vòng thị phi, dạy như thế này: “Dù người ta có bàn cãi thế giới là có hay không, hữu hạn hay vô hạn thì cũng không giải quyết được nỗi khổ của sanh, già, bệnh, chết đang đè nặng lên kiếp người” [8].
Chúng ta có thể nói rằng thói quen tránh bàn thế sự, chỉ thảo luận Chánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh (tức hành thiền) là một đặc điểm của sinh hoạt Tăng già thời Phật còn tại thế. Tập quán sống an tịnh, không lắm lời tạp thoại, là một nét đẹp tinh tế của đời sống chư Tăng và được đánh giá rất cao[9] bởi nó chỉ được tìm thấy ở những con người đã đạt nội tâm tịnh lạc thực sự. Thông tin từ các truyền bản Pàli cho biết các du sĩ ngoại đạo dưới thời Phật tại thế thường hay bàn tán thế sự và tranh cãi ồn ào mỗi khi ngồi lại với nhau, một thói quen khác hẳn với thái độ yêu mến an tịnh, không tán tâm tạp thoại của các đệ tử của Thế Tôn. Bởi vậy họ rất ngại và cảm thấy bối rối xấu hổ cố bảo nhau giữ im lặng khi trông thấy Đức Phật hoặc các học trò Ngài đến gần, vì theo lời họ thì “Sa-môn Gotama là người ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, giảng dạy về an tịnh [10]; các đệ tử của Sa-môn Gotama là những người ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, được tu tập về an tịnh”[11].
Chú thích:
1. Kinh Những đề tài câu chuyện, Tăng Chi Bộ.
2. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.
3. Kinh Lời nói, Tương Ưng Bộ.
4. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.
5. Kinh Thánh cầu, Trung Bộ.
6. Kinh Đại không, Trung Bộ.
7. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.
8. Tiểu kinh Màlunkya, Trung Bộ.
9. Xem lời tán  thán  hội  chúng  Tỷ-kheo của  vua Ajàtasattu ở kinh Sa môn quả, Trường Bộ và sự nhận xét đánh giá của quốc vương Pasenadi ở kinh Pháp trang nghiêm, Trung Bộ.
10. Tiểu kinh Thiện sanh Udàyi, Trung Bộ.
11. Kinh Samanamandika, Trung Bộ. „

Theo: Văn hóa Phật giáo số 146
Nguồn: vanhoaphatgiaoblog.com

Chúng ta là gì???


Đôi khi việc dạy dỗ thật khó khăn. Nhà sư chẳng 

khác nào một cái giỏ rác để người ta vất bỏ mọi 

vấn đề bực dọc và phiền toái vào. Càng dạy 

nhiều học trò thì rác bẩn càng nhiều. Nhưng dạy 

dỗ là một cách thực hành tốt đẹp. Dạy dỗ giúp ta 

phát triển kiên nhẫn và hiểu biết.


Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Học Pháp như chiếc bè



ธรรมเปรียบเหมือนแพ


Phật Pháp ví như chiếc đò qua sông, khi lên bờ 

rồi thì hãy bỏ nó mà đi chứ tội gì mà vác chiếc 

đò theo cho mệt và nhớ là đừng bao giờ bỏ lại 

chiếc đò giữa dòng sông khi mà chúng ta cần 

phải nương theo nó mà qua sông.... 


Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

Ân đức Cha Mẹ


Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói 

không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và 

Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, 

nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm 

năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, 

tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi 

tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng 

chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, 

này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc 

độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy 

báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa 

làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.


(Tăng Chi Bộ kinh 1 - Chương 2 Pháp - Phẩm tâm 

thăng bằng)



Xuất gia Sadi dịp hè tại Wat Maiphiren PL.2556

Theo tinh thần Phật Giáo và truyền thống của Thái Lan, vào các dịp nghỉ hè, dịp Tết Songkarn (15/4) hoặc là dịp sinh nhật Đức Vua... thì các thanh thiếu niên sẽ tranh thủ thời gian xin vào chùa tu học, trở thành những vị Tỳ-kheo, những vị Sa-di và cầu phước đến cho Đức Vua, Hoàng hậu cũng như là ông bà cha mẹ của mình.
Xin giới thiệu đến quý vị những hình ảnh và đoạn clip Video về lễ xuất gia Sa-di tại Wat Maiphiren (Bangkok - Thailand):
























Hành thiền là gì???




Đừng nghĩ rằng chỉ cần ngồi nhắm mắt là hành 

thiền. Nếu nghĩ như vậy thì hãy gấp rút thay đổi 

tư tưởng đó đi. Hành thiền đều đặn là giữ chánh 

niệm trong mọi lúc, dầu đang đứng, đang đi, 

đang ngồi hay đang nằm. 

(Ajahn Chah)

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Độc đáo Tam tạng thánh điển ở chùa Kuthodaw


Chùa Kuthodaw (Mandalay, Myanmar) là một quần thể gồm những đền, hơn 700 tháp nhỏ bằng đá cẩm
 thạch trắng được gọi là kyauksa gu. 
Phía trong mỗi tháp có một tấm biển đá ghi chép lại kinh Phật. Mỗi phiến đá cẩm thạch trắng cao 1,5 mét, rộng 1 mét. Ngôi chùa được xây dựng như một phần của hoàng cung Mandalay từ năm 1857.

Vua Mindon Min lo lắng trước sự xâm lăng của người Anh cả về lãnh thổ lẫn tôn giáo đã quyết định để lại một công trình hoàng gia để truyền bá Phật giáo: bộ Tam tạng - Pali với chữ viết của người Myanmar được khắc trên đá.

Công việc ghi chép lại kinh Phật trên mặt đá hoàn toàn không đơn giản và phải mất nhiều ngày để một người thợ khắc kín hai mặt của một tấm biển. Sau khi khắc chữ lên bề mặt đá, các rãnh chữ được đổ vàng. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài và nhiều lần phục chế, nhiều chữ vàng đã không còn, chỉ còn lớp muội đen hay những vệt khắc đá.

Tương truyền, dù đọc miệt mài 8 tiếng mỗi ngày, du khách cũng phải mất đến 450 ngày mới có thể đọc toàn bộ "cuốn sách".

Cùng CTV Giác Ngộ Online dạo thăm những công trình uy nghi ở chùa Kuthodaw:

nguyenhai06.jpg
Nhìn từ bên ngoài, chùa Kuthodaw như một quần thể đền đài

nguyenhai05.jpg

nguyenhai04.jpg

nguyenhai10.jpg

nguyenhai11.jpg
Hơn 700 tháp nhỏ bằng đá cẩm thạch trắng được gọi là kyauksa gu

nguyenhai03.jpg
Bên trong những tháp chùa

nguyenhai08.jpg
Tôn tượng nơi chánh điện

nguyenhai09.jpg
Những "trang kinh" bằng đá

nguyenhai01.jpg

nguyenhai02.jpg
Tam tạng thánh điển khắc trên đá, bằng chữ Myanmar


nguyenhai12.jpg
Du khách Việt Nam trước ngôi bảo tự

nguyenhai07.jpg
Uy nghi 
Trần Nguyên Hải thực hiện