Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Kiến trúc Phật giáo ở Thái Lan




Thái Lan – “Nước Phật áo vàng” với 95% dân số theo đạo Phật. Đó cũng là lý do vì sao Thái Lan là quốc gia có đến 2 vạn 7 ngàn ngôi chùa. 
Là một miền đất Phật, nên những ngôi chùa ở đây mang kiểu kiến trúc độc đáo và có phần đặc trưng của Thái Lan: những ngôi chùa dát vàng, những ngọn tháp hình xoắn ốc, nghệ thuật chạm trỗ tinh vi,… tất cả tạo nên vẻ rực rỡ đến sững sờ, thể hiện được phần nào phong cách kiến trúc của người Thái nói chung và kiến trúc chùa Thái nói riêng.

Chùa Budsiam, Bangkok

Chùa Donmuang

Bên trong khuôn viên mỗi ngôi chùa Phật giáo là một vài khối nhà và các ngọn tháp. Ngôi nhà lớn nhất, một đại sảnh hình chữ nhật có mái gốc chỉ thẳng lên cao gọi là “bot”, đây là nơi để tụng kinh và hội họp các sư sãi; kế đến là “viharn”, nơi tiến hành các nghi lễ thờ phụng hàng ngày. 


Ngoài ra, nói đến chùa Thái Lan không thể không nhắc đến tàng kinh các, nằm trong một cái nền cao vượt so với mặt đất, đây là nơi dùng để cất giữ những kinh sách cổ xưa. 
Khuôn viên chùa còn có một vài Chedi, là những ngọn tháp hình xoắn ốc, với đế rộng và đỉnh tháp thon nhỏ lại trông giống như cây trụ tròn nhô lên trời cao, đây cũng là một nét đặc trưng trong kiến trúc chùa ở Thái Lan.



Bên cạnh những ngôi đền cổ xưa mang dấu ấn thời gian là những ngôi chùa trang trí hết sức cầu kỳ, toàn bộ Chedi được dát vàng, và Chedi vốn là những kiến trúc thờ phụng chứa đầy bạc vàng! Trang trí đã trở thành nghệ thuật tô điểm cho kiến trúc chùa ở Thái Lan, nên có thể thấy được nghệ thuật này qua hầu hết các ngôi chùa ở đây. 
Nói đến kiến trúc chùa Thái Lan lại không thể bỏ qua nghệ thuât chạm khắc tinh xảo trên những cánh cửa, khung cửa sổ, mái hiên, trụ cột… và chắc chắn không thể thiếu những bức tượng đầy uyển chuyển với những tư thế khác nhau thể hiện sự tinh tế đến lạ kỳ. 




Mặc dù cùng với sự phát triển cũng như thâm nhập của các nền văn hóa khác nhau, nhưng những lối kiến trúc bản địa, lối kiến trúc của văn hóa Thái Lan không hề thay đổi, có chăng là sự tu bổ thêm những chi tiết phức tạp khác trên nguyên bản kiến trúc cổ xưa mà thôi, ngay cả những ngôi chùa được xây mới vào nửa cuối thế kỷ 20 vẫn còn bảo tồn được nghệ thuật cổ điển độc đáo của mình, tạo nên một phong cách kiến trúc Phật giáo rất Thái.
(diaoconline.vn)

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

THÁI LAN VUI MỪNG SINH NHẬT ĐỨC VUA THÁI LAN

Giới thiệu sơ lược về Đức vua Thái Lan
Bhumibol Adulyadej
k-21
Đức vua Thái Lan Bhumibol Adulyadej.
Nhà vua và các thành viên Hoàng gia
Đức vua sinh ngày 5/12/1927 tại bệnh viện Mount Auburn ở bang Masshachusetts, Hoa Kỳ. Ngài là con út của Hoàng tử Mahidol và bà Sanwalya và là cháu trực hệ của Vua Chulalongkorn (Rama V).
Đức vua Bhumibol Adulyadej (Rama IX) lên ngôi báu vào ngày 9/6/1946. Cho đến thời điểm hôm nay (3/12/2011) Vua Bhumibol Adulyadej (Rama IX) đã trở thành vị vua đầu tiên của Thái Lan tại vị được trên 65 năm và cũng là người ở ngôi lâu nhất trong lịch sử của thế giới.
king-bhumibol-01
king-bhumibol-adulyadej-3
Trong ngày lên ngôi, Vua Bhumibol đã long trọng tuyên thệ rằng "Sẽ trị vì và dẫn dắt nhân dân Thái theo đường lối của Phật giáo ngỏ hầu mang lại hạnh phúc và lợi lạc cho họ". Từ ngày ấy đến nay, Ngài chưa bao giờ xao lãng với lời thề nguyện này.
Sau khi lên ngôi vào ngày 9/6/1946, Ngài trở lại Thụy sĩ để hoàn tất chương trình học vấn của mình,  nghiên cứu Luật và Khoa học Chính trị, những môn học hữu ích cho Ngài sau khi nhận lãnh ngai báu. Ngài trở về Thái Lan và bắt đầu với cương vị là quốc vương của nhân dân Thái Lan sau lễ đăng quang ngày 5/5/1950.
21654b4b8f731147.jpg
Vua Bhumibol kết hôn với Rajawongse Sirikit (con gái của đại sứ Thái lúc đó tại Pháp) vào ngày 28/4/1950 và có với Hoàng hậu bốn người con: Công chúa Ubol Ratana sinh năm 1951, Thái tử Maha Vajiralongkorn (sinh năm 1952, từng đến thăm Việt Nam tháng 11/1992, 9/1997, 12/2007, 01/2008 và 5/2008), Công chúa Chakri Sarindhorn (sinh năm 1955, đã đến thăm Việt Nam 2/1993, 4/2000) và Công chúa Chulabhorn (sinh ngày 4/7/1957 đã đến thăm Việt Nam11/1998, 5/1999, 6/2000, 11/2001, 2/2003, tháng 12/2003 và 7/2008).
375417_251181951610648_100001565349319_722194_1013534495_n
Nhà vua là Phật tử
Hiến pháp của Thái Lan (xưa và nay) quy định rằng Quốc vương phải là một Phật tử và là người ủng hộ các tôn giáo trong nước. Vua Bhumibol đã hoàn thành nghĩa vụ này qua việc quan tâm và khuyến khích bảo vệ tất cả những truyền thống tín ngưỡng của dân tộc Thái. Riêng bản thân, vào ngày 22/10/1956 (PL 2500), Vua Bhumidol đã cử hành lễ xuất gia tại chùa Benchamabopetr và được vua sãi Thái Lan là Trưởng lão Somdech Phra Vanarat truyền giới cụ túc và Nhà vua đã trở thành môt tỳ kheo với đạo hiệu là Bhumibalo. Sau khi thọ đại giới, Ngài đến trụ trì chùa Emerald Buddha. Hết hạn 15 ngày, Vua xả giới hoàn tục và trở lại với cương vị của mình.
06_LTR_0098
Trước đó, vì muốn phát triển nền giáo dục Phật giáo, sau khi lên ngôi Nhà vua đã cho xây dựng hai trường Ðại học Phật giáo dành riêng cho giới tu sĩ theo học, một trong hai ngôi trường này là đại học Mahachulalongkorn tại Bangkok, quy tựu hàng ngàn tu sĩ trên khắp Thái Lan về học và cho đến ngày nay, Đức vua vẫn là người tài trợ chính cho trường này. Năm 1951, Nhà vua ủng hộ xây dựng Bệnh viện Phật giáo ở ngoại ô Bangkok dành riêng cho tu sĩ Phật giáo đến chữa bệnh miễn phí. Năm 1952, Nhà vua chủ trương và ủng hộ tài chánh để ấn hành Ðại Tạng Kinh tiếng Thái gồm 250 quyển (bộ Ðại Tạng này được vua Ananda khởi xướng phiên dịch từ Tạng Pàli ra tiếng Thái từ đầu năm 1946). Năm 1987, Vua cũng là nhà tài trợ chính cho Trung tâm tin học của Đại học Mahidol thực hiện bộ đĩa CD-ROM về Tam Tạng Thánh Ðiển Phật giáo.
Trong đời sống tâm linh, Nhà vua thọ trì pháp môn Thập Thiện Nghiệp Ðạo và hàng ngày cùng với Hoàng hậu lễ Phật và tụng kinh trong điện Phật tại Hoàng cung.
Nhà vua và các hoạt động xã hội
Trong cách cư xử, Nhà vua xem mọi người đều như nhau, từ giai cấp thượng lưu, quan chức nhà nước cho đến thứ dân cũng đều như vậy.
Nhà vua tự xem mình là một người phục vụ cho dân tộc Thái. Ngài thường xuyên viếng thăm các tỉnh, thành của Thái Lan, kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất. Với những cuộc viếng thăm như thế, Ngài đã tiếp cận, tìm hiểu thực tế, nhắc nhở người dân ăn hiền ở lành, nâng cao đời sống qua siêng năng làm việc, bảo vệ môi trường và giữ gìn sức khỏe.
Sức khỏe và an sinh của người dân luôn là mối quan tâm hàng đầu của Nhà vua. Ðể đảm bảo được sức khỏe của dân chúng, Ngài đã cho xây dựng trạm y tế khắp nơi trên đất Thái. Ngài cũng thành lập một ngân quỹ để tài trợ cho những nhóm nghiên cứu khoa học và y học.
Vua Bhumibol là một trong những người giàu nhất thế giới, nhờ đó Nhà vua có thể tài trợ nhiều dự án. Tài sản của Nhà vua và Hoàng gia Thái được quản lý bởi Văn phòng Tài sản Hoàng gia (CPB). Số tài sản này ước tính từ 2 đến 8 tỉ USD. Qua CPB Nhà vua sở hữu nhiều loại tài sản rải rác khắp Thái Lan cũng như cổ phần trong nhiều công ty, kể cả Siam Cement (Tập đoàn công nghiệp lớn nhất Thái Lan), và Ngân hàng Thương mại Siam (trong số những ngân hàng lớn nhất). Có khoảng 36.000 tài sản các loại của CPB được cho thuê mướn. Các tài sản sở hữu bởi CPB còn có Khách sạn Bốn mùa, Chợ đêm Suan Lum và Central World Tower.
Nhà vua Bhumibol tham gia tích cực vào đời sống kinh tế và xã hội của đất nước, chủ yếu là qua một loạt các đề án phát triển kinh tế mà Ngài đề xuất, tổ chức và tài trợ. Những dự án của Nhà vua luôn liên quan đến cải cách nông nghiệp, y tế, giáo dục, xã hội, văn hóa và tôn giáo. Nơi nào không có ngân quỹ lập tức được Ngài huy động qua ngân sách của quốc gia, hay kêu gọi các tổ chức từ thiện, hoặc từ nguồn tài chính của riêng Ngài.
Tổng số có hơn 3.000 đề án khởi xướng bởi Quốc vương và được triển khai trên toàn quốc Thái Lan.
Các dự án của Ngài thuộc 8 khối lĩnh vực: nông nghiệp, môi trường, y tế, huấn nghiệp, tài nguyên nước, truyền thông, phúc lợi xã hội và những lĩnh vực khác.
Nếu theo cách tổ chức thực hiện thì các dự án đó có thể được phân loại như sau:
§ Đề án đích thân Nhà vua hướng dẫn và thí nghiệm, thường dựa vào những tư vấn của các chuyên gia và được triển khai trong giai đoạn đầu bởi ngân quỹ riêng của Nhà vua. Một khi đề án đạt được những kết quả khả quan, Nhà vua chuyển giao đề án cho chính quyền để phát triển xa hơn.
§ Đề án của Nhà vua và Hoàng hậu, ví dụ như đề án vụ mùa thay thế nhằm chặn đứng việc trồng thuốc phiện, phá rừng và đốt rừng để canh tác, vẫn được duy trì bởi người dân các bộ tộc. Nhà vua cung ứng tư vấn và sự trợ giúp để người dân trồng các loại cây ăn trái và hoa, đem lại lợi tức cao hơn cũng như cải thiện điều kiện thời tiết.
§ Đề án được điều hành bởi tư nhân nhưng dựa trên những chỉ dẫn của Nhà vua, gồm có Bách khoa Toàn thư cho Đề án Thanh niên, Đề án Từ điển, và Đề án Phát triển Làng xã Hợp tác Din Daeng.
Nhà vua đóng góp một ngân quỹ rất lớn để thành lập một tổ chức cấp phát học bổng cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước. Ngài cũng tổ chức xây dựng trường học ở các vùng ven, vùng sâu để cho trẻ em có nơi học hành. Qua sự đóng góp khích lệ của Nhà vua, giới trẻ quốc gia này đã phát triển theo chiều hướng tốt và trở thành những công dân gương mẫu sau này.
Nhà vua và tài năng cá nhân
the-jazz-king
Vua Bhumibol là một nhạc công và sáng tác nhạc jazz tài năng. Nhà vua được trao tặng danh hiệu thành viên danh dự Viện Âm nhạc và Nghệ thuật Vienna vào lúc 32 tuổi. Ngài thường trình diễn nhạc jazz trên sóng phát thanh của đài Or Sor, cũng đã công diễn với những huyền thoại nhạc jazz như Benny Goodman, Jack Teagarden, Lionel Hampton và Maynard Ferguson. Các ca khúc do Nhà vua sáng tác được yêu thích tại các cuộc tụ họp công cộng và được trình diễn trong các buổi hoà nhạc. 
Bạn có thể thưởng thức
các nhạc phẩm của Nhà vua tại đây.
Ngoài ra, Nhà vua còn là hoạ sĩ, nhiếp ảnh gia, tác giả và dịch giả. Tác phẩm Phra Mahachanok của Ngài dựa trên câu truyện cổ Jakata về kinh Phật. Chuyện kể về Thong Daeng là câu chuyện về con chó Khun Thong Daeng. Kỷ năng đua thuyền buồm của Nhà vua cũng được khẳng định với huy chương vàng tại kỳ SEA Games năm 1967.
Ngài là vị vua duy nhất có bằng sáng chế năm 1993 cho một công trình xử lý nước thải tên “Chai Pattana”, và một vài bằng sáng chế khác cho qui trình tạo mưa từ năm 1955: bằng sáng chế tạo mưa “sandwich” năm 1999 và sau này là bằng sáng chế “supersandwich” năm 2004.
Một vị vua anh minh của đất nước Thái Lan
Mặc dù Thái Lan theo thể chế quân chủ đại nghị, Quốc vương Bhumibol Adulayadej được coi là vị vua có ảnh hưởng lớn trong chính trường và đời sống nhân dân Thái Lan. Nhà vua được người dân Thái Lan hết sức sùng kính, là tâm điểm của sự đoàn kết dân tộc. Quan điểm sống hy sinh và tận tụy với nhân dân của Đức vua đã khiến cho Ngài trở thành một vị vua anh minh của đất nước Thái Lan.
(Nguồn tham khảo:
Bhumibol Adulyadej, một ông Vua Phật tử, Thích Nguyên Tạng, Chùa Quảng Ðức, Melbourne, Australia;
Đại lễ kỷ niệm 50 năm (1946 - 1996) lên ngôi của Vua Bhumibol
Lễ kỷ niệm 50 năm (1946 - 1996) lên ngôi của Vua Bhumibol đã tạo cho vương quốc Thái Lan có cơ hội để tổ chức một lễ hội lớn nhất chưa từng xảy ra trong lịch sử của nước này. Vào đúng ngày 9/6/1996, Vua Bhumibol Adulyadej (Rama IX) đã trở thành vị vua đầu tiên của Thái Lan tại vị được 50 năm và cũng là người ở ngôi lâu nhất trong lịch sử của thế giới.
Các lễ hội của Hoàng gia, quốc gia và tôn giáo được tổ chức kỷ niệm kéo dài từ đầu năm 1995 đến cuối năm 1996. Chính phủ Thái Lan đã thành lập một ủy ban tổ chức lễ kỷ niệm này, đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ, người lập kế hoạch và giám sát mọi hoạt động khác nhau được tổ chức bởi nhiều ban ngành, thành phần trong xã hội vào dịp lễ này. Tất cả những chương trình lễ hội phải được thực hiện đầy đủ và đúng theo ý của Nhà vua để không phung phí tiền bạc mà nó có thể mang lại lợi ích và an vui cho nhân dân Thái.
Chương trình diễn ra trong lễ hội lịch sử này gồm có: treo cờ quốc gia ở mọi nhà, mọi đường xá và trang trí đèn ở các thành phố chính; các nhà hát kịch diễn lại các vỡ tuồng cổ, truyền thống; triển lãm tranh, ảnh về Hoàng gia và Phật giáo, đặc biệt trong lễ này có thỉnh xá lợi của Phật từ Ấn Ðộ về cho nhân dân chiêm ngưỡng; ấn hành sách vở, tem, tiền đồng về hoàng gia; tổ chức thi viết văn và thơ ca về Đức vua; Hoàng gia tiến hành ân xá cho tù nhân; ban cấp bậc và tổ chức cúng dường cho tu sĩ Phật giáo; tổ chức những đoàn diễu hành bằng xà lan trên sông Chao Praya; xây dựng một công viên công cộng tại tỉnh Nonthaburi; tổ chức trồng rừng, tổ chức phát triển những dự án khác, v.v...
Đại lễ mừng 60 năm Nhà vua đăng quang năm 2006
Đại lễ mừng 60 năm Nhà vua đăng quang bao gồm một chuỗi các hoạt động lễ hội tôn vinh triều đại Bhumibol như lễ rước thuyền hoàng gia trên sông Chao Phraya, bắn pháo hoa, triển lãm nghệ thuật, hoà nhạc và khiêu vũ. Nhân dịp lễ kỷ niệm này, tháng 5/2006, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc trao tặng Huy chương Thành quả Trọn đời vì Phát triển Nhân loại đầu tiên của Liên hiệp quốc cho Nhà vua. Đại lễ kéo dài từ ngày 9 đến 12-13/6. Ngày 9/6, Nhà vua và Hoàng hậu xuất hiện trên ban công Điện Ananta Samakhom trước hàng trăm ngàn người dân. Lễ rước thuyền hoàng gia tổ chức ngày 12/6 với sự tham dự của Quốc vương và Hoàng hậu cùng khách mời của hoàng tộc đến từ 25 quốc gia. Ngày 13/6, một quốc yến chiêu đãi khách hoàng tộc được tổ chức tại Điện Rama IX ở Hoàng Cung. Tất cả các kênh truyền hình Thái Lan đều tường thuật sự kiện lịch sử này.

วันพ่อแห่งชาติ 2555


วันพ่อแห่งชาติ
วันพ่อแห่งชาติ 2555
วันพ่อแห่งชาติ
    พจนานุกรมฉบับราชบัณฑิตยสถาน (ราชบัณฑิตยสถาน พจนานุกรมฉบับราชบัณฑิตยสถาน พ.ศ. 2525 หน้า 587) พ.ศ. 2525 ได้ให้ความหมายคำว่า “พ่อ” ไว้ดังนี้
พ่อ หมายถึง ชายผู้ให้กำเนิดแก่ลูก, คำที่ลูกเรียกชายผู้ให้กำเนิดตน
     ในทางพุทธศาสนา ได้ให้ความหมายของคำว่า “พ่อ” หมายถึง ชายผู้ให้กำเนิดแก่ลูกมีใช้หลายคำ เช่น
     - บิดา (พ่อ)
     - ชนก (ผู้ให้กำเนิด)
     - สามี (ผัวของแม่) เป็นต้น
     วันพ่อแห่งชาติ  5 ธันวาคม ของทุกปี เป็นวันคล้ายวันพระราชสมภพของพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัว ทางราชการได้กำหนดให้เป็นวันหยุดราชการหนึ่งวัน เพื่อให้ประชาชนชาวไทย ได้ร่วมกันเฉลิมฉลองในวันเฉลิมพระชนมพรรษาพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวและถือเป็นวันพ่อแห่งชาติ อีกวันหนึ่งด้วย
      วันเฉลิมพระชนมพรรษาพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวหรือวันพ่อแห่งชาติ มีความเป็นมาของวันสำคัญ คือพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวภูมิพลอดุลยเดช ทรงพระราชสมภพเมื่อ วันที่ 5 ธันวาคม พ.ศ. 2470 ณ โรงพยาบาล เมาท์ ออเบิร์น นครบอสตัน สหรัฐอเมริกา โดยนายแพทย์วิทท์มอร์เป็นผู้ถวายการประสูติพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวเสด็จฯขึ้นเถลิงถวัลย์ราชสมบัติเป็นรัชกาลที่ 9 แห่งบรมจักรีวงศ์ กรุงรัตนโกสินทร์ ทรงประกอบพระราชกรณียกิจและเจริญพระราชจริยาวัตรเป็นเอนกประการจำเนียรกาลผ่านมาถึงปัจจุบันที่สุดจะพรรณนาให้ครบถ้วนได้ท่ามกลางมหาสมาคมวันพระราชพิธีพระบรมราชาภิเษกทรงมีกระแสพระราชดำรัสที่ พสกนิกรทุกคนยังจดจำได้ “เราจะครองแผ่นดินโดยธรรม” อันคำว่าโดย “ธรรม” นั้น ทรงหมายถึง ธรรมอันล้ำเลิศที่เรียกว่า “ทศพิธราชธรรม” หรือที่เรียกกันโดยสามัญว่า “ราชธรรม 10 ประการ”
วันพ่อแห่งชาติ 2554
พระที่นั่งอัมรินทรวินิจฉัย พระบรมมหาราชวัง
     ราชธรรม 10 ประการนี้ พระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัว ทรงยึดมั่นทรงปฎิบัติโดยเคร่งครัด และส่งผลถึงพสกนิกรทั่วพระราชอาณาจักรนับเป็นพระมหากรุณาธิคุณเหนือเกล้าฯ ห่วงใยตั้งแต่พระเยาว์จนถึงปัจจุบัน รวมทั้งพระเจ้าหลานเธอทุกพระองค์ต่างซาบซึ้งและปลาบปลื้มในพระมหากรุณาธิคุณอย่างมิรู้ลืม พระองค์ทรงเป็น “พ่อ” ตัวอย่างของปวงชนชาวไทยที่เปี่ยมล้นด้วยพระเมตตากรุณา ทรงห่วงใยอย่างหาที่เปรียบมิได้
     “...บ้านเมืองของเราเป็นปึกแผ่นร่มเย็นปกติสุขมาช้านาน เพราะเรามีความยึดมั่นในชาติและต่างร่วมมือร่วมแรงร่วมใจกันทำหน้าที่โดยนึกถึงประโยชน์ส่วนรวมของชาติเป็นเป้าหมายสำคัญสูงสุด ท่านทั้งหลายในสมาคมนี้ ตลอดจนคนไทยทุกหมู่เหล่า จึงควรทำความเข้าใจในหน้าที่ของตนไว้ให้กระจ่างและนำไปปฏิบัติหน้าที่ของตนให้ดีที่สุด ด้วยความไม่ประมาท และด้วยความมีสติ…”
      (พระราชดำรัส พระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวฯ พระราชทานแก่คณะบุคคลต่างๆ ที่เข้าเฝ้าฯถวายพระพรชัยมงคล เนื่องในวโรกาสวันเฉลิมพระชนมพรรษา 5 ธันวาคม ณ พระที่นั่งอัมรินทรวินิจฉัย พระบรมมหาราชวัง)
กิจกรรมที่ควรปฎิบัติในวันพ่อแห่งชาตินี้
      1. ในวันพ่อแห่งชาติเราควรประดับธงชาติไทยที่อาคารบ้านเรือน
      2. จัดพิธีศาสนสงฆ์ ทำบุญใส่บาตร อุทิศเป็นพระราชกุศล น้อมเกล้าฯ ถวายพระพรชัยมงคล
     3. จัดกิจกรรมเกี่ยวกับการบำเพ็ญสาธารณประโยชน์เพื่อถวายเป็นพระราชกุศล
ความเป็นมาของวันพ่อแห่งชาติ 
      วันพ่อแห่งชาติ ได้จัดให้มีขึ้นครั้งแรกเมื่อวันที่ 5 ธันวาคม พ.ศ. 2523 โดยคุณหญิงเนื้อทิพย์ เสมรสุต นายกสมาคมผู้อาสาสมัครและช่วยการศึกษาเป็นผู้ริเริ่มหลักการและเหตุผลในการจัดตั้งวันพ่อแห่งชาติ พ่อเป็นผู้มีพระคุณที่มีบทบาทสำคัญต่อครอบครัวและสังคม สมควรที่ผู้เป็นลูกจะเคารพเทิดทูนตอบแทนพระคุณด้วยความกตัญญู และสมควรที่สังคมจะยกย่องให้เกียรติรำลึกถึงผู้เป็นพ่อ จึงถือเอาวันที่ 5 ธันวาคม ของทุกปีซึ่งเป็นวันเฉลิมพระชนมพรรษาเป็น “วันพ่อแห่งชาติ” ด้วยพระมหากรุณาธิคุณ ของพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวที่ทรงมีต่อพสกนิกรชาวไทยอย่างนานัปการ ทรงเป็นพระราชบิดาของพระราชโอรสและพระราชธิดา ทรงรักใคร่และให้ดอกพุทธรักษาเป็นสัญลักษณ์ วันพ่อแห่งชาติ
ทุกบุปผา มาลัยคือใจราษฎร์ ภักดีบาทองค์บพิตรเป็นนิจสิน
พระ คือ บิดาข้าแผ่นดิน ร่วมร้อยรินมาลัยถวายพระพร
ลุ 5 ธันวามหาราช “วันพ่อแห่งชาติ” คือองค์อดิศร
พระเปี่ยมล้นด้วยเมตตาเอื้ออาทร พสกนิกรเป็นสุขทุกคืนวัน
ด้วยพ่อเป็นบุคคลผู้มีพระคุณ มีบทบาทสำคัญต่อครอบครัวและสังคม สมควรที่ผู้เป็นลูกจะเคารพ เทิดทูน และตอบแทนพระคุณด้วยความกตัญญู และสังคมควรที่จะยกย่องให้เกียรติรำลึกถึงผู้เป็นพ่อนี่เป็นที่มาของการจัดให้มี วันพ่อแห่งชาติ
วันพ่อแห่งชาติตรงกับวันเฉลิมพระชนพรรษาพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวภูมิพลอดุลยเดช
วันพ่อแห่งชาติหรือวันเฉลิมพระชนพรรษาพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวภูมิพลอดุลยเดช
5 ธันวาวันพ่อแห่งชาติ 
      5 ธันวาคมของทุกปี ซึ่งเป็นวันเฉลิมพระชนมพรรษาของพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวภูมิพลอดุลยเดชและยังเป็นวันพ่อแห่งชาติ เพื่อเทิดพระเกียรติพระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัว ในฐานะพ่อแห่งชาติ อีกทั้งทรงเป็นพ่อตัวอย่างของปวงชนชาวไทย ที่เปี่ยมล้นด้วยพระเมตตากรุณา ทรงบำเพ็ญคุณานุประโยชน์แก่ประเทศชาติ และประชาชน ทรงพระมหากรุณาทะนุบำรุงขจัดทุกข์ผดุงสุขพสกนิกรถ้วนหน้า พระองค์ทรงเป็น พ่อแห่งชาติที่อาณาประชาราษฎร์เทิดทูนด้วยความจงรักภักดี สำนึกในพระมหากรุณาธิคุณ และยึดมั่นในการเจริญรอยตามเบื้องพระยุคลบาทในการทะนุบำรุงชาติบ้านเมืองให้ วัฒนาถาวรสืบไป ซึ่งมีวัตถุประสงค์ของวันพ่อแห่งชาติ 4 ประการ คือ
1.       เพื่อเทิดทูนพระเกียรติคุณของ พระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัว
2.       เพื่อเทิดทูนพระคุณของพ่อ และยกย่องบทบาทของพ่อที่มีต่อครอบครัวและสังคม
3.       เพื่อให้ลูกได้แสดงความกตัญญูกตเวทีต่อพ่อ
4.       เพื่อให้ผู้เป็นพ่อ สำนึกในหน้าที่และความรับผิดชอบของตน
วันพ่อแห่งชาติ ในประเทศไทยตรงกับวันที่ 5 ธันวาคมของทุกปี
วันพ่อแห่งชาติ ในประเทศไทยตรงกับวันที่ 5 ธันวาคมของทุกปี
ดอกไม้ประจำวันพ่อแห่งชาติ
     วันที่ 5 ธันวาคม ของทุกปีเป็นวันพ่อแห่งชาติ กำหนดขึ้นครั้งแรก ในปี 2523 และ กำหนดให้ ดอกพุทธรักษาสีเหลือง เป็นดอกไม้สัญลักษณ์ประจำวันพ่อแห่งชาติ
วันพ่อแห่งชาติมีดอกพุทธรักษาเป็นสัญลักษณ์ประจำ
ดอกพุทธรักษาสีเหลือง เป็นดอกไม้สัญลักษณ์ประจำวันพ่อแห่งชาติ
“พุทธรักษา” ซึ่งหมายถึง พระพุทธเจ้าทรงปกป้องคุ้มครอง ให้มีแต่ความสงบสุขร่มเย็น ซึ่งมีเรียกกันมากว่า 200 ปี และสีเหลืองอันเป็นสีประจำวัน พระราชสมภพขององค์พระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัวฯ ของปวงชนชาวไทย การมอบดอกพุทธรักษาให้กับพ่อ จึงเสมือนกับการบอกถึง ความรักและเคารพบูชาพ่อ ผู้สร้างความสงบสุขร่มเย็นให้แก่ครอบครัว
     คนไทยโบราณเชื่อว่า บ้านใดปลูกต้นพุทธรักษาไว้ประจำบ้านจะช่วยปกป้องคุ้มครอง ไม่ให้มีเหตุร้ายหรืออันตรายเกิดแก่บ้านและผู้อาศัย เ

บทบาทของพ่อ
พระสัมมาสัมพุทธเจ้าทรงสรุปบทบาทหน้าที่ของพ่อและแม่ไว้ 5 ข้อ
1.       กันลูกออกจากความชั่ว
2.       ปลูกฝังลูกไว้ในทางที่ดี
3.       ให้ลูกได้รับการศึกษาเล่าเรียน
4.       ให้ลูกได้แต่งงานกับคนดี
5.       มอบทรัพย์มรดกให้เมื่อถึงการณ์อันควร
วันพ่อแห่งชาติของแต่ละประเทศจะแตกต่างกันออกไป

วันพ่อแห่งชาตินั้นทั่วโลกจะมีการจัดแตกต่างกันไป โดยในประเทศไทยจัดตรงกับวันที่ 5 ธันวาคมของทุกปี
     ในส่วนของพ่อเองก็ต้องตั้งใจฝึกตนเองให้ดี ให้เป็นตัวอย่างที่ดีให้ลูกให้ได้  หาเวลามาทำกิจกรรมร่วมกัน จะได้มีเวลาแนะนำอบรมสั่งสอนกันเพื่อครอบครัวจะได้ เป็นครอบครัวอบอุ่น โดยในวันพ่อที่จะถึงนี้ ก็ขออวยพรให้คุณพ่อทุกท่านมีความสุข ดูแลลูกๆ และอยู่กับลูกๆ ไปตราบนานเท่านาน
คลิปเพลงที่เกี่ยวกับวันพ่อแห่งชาติ

เพลงรักพ่อทุกวัน

กลอนวันพ่อ

อยากให้พ่อ มาเห็น ความเป็นอยู่
จากการสู้ งานหนัก สร้างหลักฐาน
สร้างสรรค์ลูก ปลูกฝัง มาตั้งนาน
ลูกมีบ้าน งานทำ ไม่ลำเค็ญ
หยาดเหงื่อพ่อ พร้อมแม่ แต่ละหยาด
คือประกาศ ความดี มีให้เห็น
พระคุณพ่อ เพียงพรหม พาร่มเย็น
ผ่านทุกข์เข็ญ กว่าใคร ในโลกา
เพียงเพื่อลูก ได้มี ชีวิตรอด
พ่อทนกอด อดกลั้น ทุก
ปัญหา
เพียงลูกรัก จักเกิด เลิศปัญญา
พ่ออุตส่าห์ หาเงิน เกินกำลัง
พ่อทำได้ ทุกอย่าง เพื่อสร้างลูก
พ่อพันผูก ปลูกจิต ให้คิดหวัง
พ่อสอนอย่า เย่อหยิ่ง เขาชิงชัง
พ่อเติมพลัง ให้สู้ เป็นผู้คน
คำพ่อสอน ทุกอย่าง สร้างชีวิต
ให้มีสิทธิ์ โบยบิน ทุกถิ่นหน
ดั่งนกน้อย คล้อยชม ล่องลมบน
นั่นคือผล งานพ่อ ไม่ท้อทำ
อยากให้พ่อ มาเห็น ความเป็นอยู่
เพื่อได้รู้ ผลงาน นานฉนำ
ไม่มีพ่อ ยลยิน เพราะสิ้นกรรม
ซาบซึ้งคำ พ่อสั่ง หลั่งน้ำตา
รักพ่อทุกวัน
พ่อผู้ให้ กำเนิด เกิดชีวิต พ่ออุทิศ สั่งสอนลูก ผูกนิสัย พ่อชี้นำ แนวทาง ไม่ห่าง ไกล
กลอนวันพ่อ
เป็นสองมือ อุ้มชู เลี้ยงดูลูก....เป็นสายใย พันผูก คอยห่วงหา
เป็นอ้อมกอด อบอุ่น ค้ำจุนมา....เป็นสายตา ห่วงใย ใคร่อาทร
ยามเจ็บไข้ เฝ้าดูแล ด้วยชีวิต ....ยามพลั้งผิด ท่านอบรม คอยบ่มสอน
ยามเหนื่อยหน่ายกำลังใจไม่สั่นคลอน....ยามใดใด ยังอาทร ไม่เปลี่ยนแปร
ด้วยความรัก ของพ่อ ที่ยิ่งใหญ่ .....ด้วยหัวใจ สะอาดใส เป็นแน่แท้
ด้วยชีวิต เพื่อลูก .. เฝ้าดูแล ....ด้วยสองมือ ไม่ผันแปร เป็นอื่นใด
    ชายคนหนึ่ง ทำทุกอย่าง ไม่เคยบ่น    ทั้งตากแดด ตากฝน ยอมทนหนาว
    เพื่อความหวัง ที่สดใส สุขสกาว      ให้ลูกชาย ลูกสาว ได้เล่าเรียน
    แม้ต้องแลก กับหยาดเหงื่อ สักกี่หยด        แม้ต้องควัก สตางค์หมด จนเป็นหนี้
    ไม่เคยท้อ หวังแค่ลูก ได้จบตรี แต่ลูกสิ กับชั่ว จนลืมตน
    ได้แต่ขอ เงินท่าน ไม่เคยขาด      เอาไปใช้ เรื่องอุบาท จนหมดสิ้น
    ไม่เคยคิด ไม่เคยนึก ได้แต่ชิน     ชินกับการ ฟุ่มเฟือย จนเลื่อยมา
    แล้วสุดท้าย ความเจ็บปวด มันหวนกลับ      คนที่รับ นั้นคือพ่อ ใข่ไหมหนา
    ต้องมานั่ง ร้องไห้ เสียน้ำตา     พ่อเร่งหา ลูกล้างผลาญ หมั่นทำลาย
    จนวันหนึ่ง คิดได้ ในที่สุด     แต่เวลา กับหยุด ฝันสลาย
    ท่านไม่ได้ อยู่กับเรา ไปจนตาย    กว่าคิดได้ มันคงสาย ไม่หวนคืน
รับชมวิดีโอวันพ่อแห่งชาติ
เนื่องในวันที่ 5 ธันวาคม เป็นวันคล้ายวัน พระราชสมภพ ของ พระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัว หรือ ในหลวงของเรา นั้น เว็บไซต์ดีเอ็มซีดอททีวี จึงขอเชิญชวนร่วมลงนามถวายพระพร ในหลวง

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Tiger Temple

Tiger Temple, or Wat Pha Luang Ta Bua, is a Theravada Buddhist temple in western Thailand that was founded in 1994 as a forest temple and sanctuary for wild animals, among them several tigers, the majority of which are Indochinese tigers. The temple is located in the Saiyok district of Thailand's Kanchanaburi province, not far from the border with Myanmar, some 38 km (24 mi) north-west of Kanchanaburi along the 323 highway.

181200_395094363870536_1869968900_n

298421_251174331595874_1710323911_n

319755_393630434016929_1365263827_n

374420_456957087684263_586213450_n

377785_259075037472470_956489014_n

379845_275546795825294_705133227_n

384811_275571515822822_771026359_n

389162_412438798802759_449756586_n (1)

403786_408227945890511_242290206_n

418547_339830436063596_887981188_n

427885_352368731476433_310887663_n

432043_341007359279237_723965013_n

525944_355326541180652_1336534642_n

tiger_temple_thailand_pic2

tiger_temple_thailand_pic7

tiger_temple_thailand_pic8

tiger_temple_thailand_pic9

tiger_temple_thailand_pic10

tiger_temple_thailand_pic18

tiger_temple_thailand_pic27

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Thừa tự pháp (Minh Tuệ)

Buddha

Thừa tự Pháp của Phật để làm lợi ích cho chính mình, và mang lợi lạc cho cuộc đời là trách nhiệm cao quý thiêng liêng của hàng xuất gia đệ tử Phật, những người được tôn xưng là sứ giả Như Lai. Phật pháp có được hưng thịnh, có thật sự mang lại niềm tin yêu và lợi lạc cho cuộc đời hay không tùy thuộc vào việc xây dựng chùa to Phật lớn mà cơ bản nằm ở chỗ  chư Tăng có sống Phạm hạnh thanh tịnh đúng như lời Phật dạy hay không. Nhận rõ vấn đề này, Đức Phật đã có lời khuyên nhắc các Tỷ-kheo hãy là người thừa tự Pháp, chớ có thừa tự tài vật. Trong bài kinh Thừa tự Pháp (Dhammadàyàdasutta) thuộc tuyển tập Trung Bộ, Ngài ân cần nhắn nhủ:

“Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Thầy trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”. Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Thầy trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật”.

Thế nào là thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật? Thế nào là thừa tự tài vật, không thừa tự Pháp? Phật kể câu chuyện để minh họa: Có hai Tỷ-kheo từ xa đến thăm Phật sau khi Phật vừa dùng bữa xong. Cả hai đi đường xa bị đói khát nên rất mệt. Phật dùng bữa xong còn lại một ít thức ăn trong bình bát. Ngài bảo hai vị Tỷ-kheo ai thấy cần thì dùng, nếu không Ngài sẽ đổ thức ăn ấy vào chỗ không có cỏ xanh hay bỏ xuống chỗ nước không có côn trùng sinh sống. Dù rất đói, vị Tỷ-kheo thứ nhất nghĩ nhớ đến lời khuyên “thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật” của Phật nên quyết tâm nhẫn chịu qua đêm với cái bụng cồn cào. Vị thứ hai nghe Phật  Như vậy, ý nghĩa thừa tự Pháp mà Đức Phật muốn khuyên nhắc các đệ tử mình là hết sức rõ ràng. Ai quyết tâm sống trọn lời Phật dạy, người ấy thừa tự Pháp, có khả năng kế thừa đại nghiệp của Phật, xứng đáng là bậc sứ giả của Như Lai. Phật khen vị Tỷ-kheo thứ nhất bởi vì vị này thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật, tức quyết tâm tu tập, uốn nắn bản thân theo đúng lời Phật dạy, không ăn phi thời, không vì cảm giác đói khát khó chịu nhất thời mà bỏ qua lời Phật. Đây là công phu tu trì, tức quyết tâm nghiêm trì giới luật của Phật nhằm khắc phục các thói quen tham muốn dục lạc, chuyển hóa chúng thành nếp sống tri túc, nhờ đó con người dần dần được tự do, hoặc nói theo lời Phật là trở nên “ít dục, biết đủ, có khả năng kham nhẫn, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn”2 hoặc “ít lăng xăng, lắng dịu, hoan hỷ với sự hiến cúng của người khác, sống với tâm tư như con thú rừng”3. Đây cũng chính là kết quả cụ thể của nếp sống thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật, tức dấu hiệu tiến bộ của hành giả tu Phật trong vấn đề điều phục và chuyển hóa bản thân, khiến cho thân tâm trở nên thư thái nhẹ nhàng, không còn bị các ham muốn dục lạc hay dục vọng lôi kéo và chi phối, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước hành tập sâu hơn về hướng đi giải thoát, tức sự đào luyện nội tâm hay thực hành thiền định.

Trong phần tiếp theo của bài kinh, Tôn giả Sàriputta làm rõ hơn ý nghĩa và tinh thần thừa tự Pháp của Phật. Tôn giả cho rằng có ba trường hợp người xuất gia được xem là kẻ thừa tự Phật pháp, xứng đáng được tán thán. Thứ nhất là sống hạnh viễn ly giống như bậc Đạo sư, tức thể hiện một nếp sống rời xa ái dục, chuyên tâm hành trì thiền định để chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát hay thực chứng Niết-bàn. Thứ hai là tuân thủ đầy đủ các học giới do bậc Đạo sư ban hành, tức những gì bậc Đạo sư dạy nên từ bỏ, không nên vi phạm thì cần phải quyết tâm từ bỏ, không có vi phạm. Thứ ba là thực thi đời sống Phạm hạnh một cách tinh chuyên, tức sống nếp sống tri túc giản dị của người xuất gia, không xem trọng vật chất, tinh cần tinh tấn tu tập, không lười biếng, không sa đọa vào thế giới dục lạc, có ý thức trách nhiệm đối với mục tiêu giải thoát của bản thân, thuật ngữ gọi là “không bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly” (na paviveke nikkhittadhurà). Và Tôn giả nhấn mạnh:

“Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơi gánh năng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Trung tọa Tỷkheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Trung tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Trung tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷkheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán”4.

Nhìn chung, thừa tự Pháp là thừa tự sự nghiệp giác ngộ của Phật, được thể hiện qua nếp sống thực hành nghiêm túc con đường giới-định-tuệ, hướng đến mục tiêu giải thoát giác ngộ. Phật mong muốn các học trò mình thừa kế đúng đắn đường hướng giác ngộ của Phật để đạt được tiến bộ lợi lạc trong đời sống tu học và để tiếp nối sự nghiệp chia sẻ kinh nghiệm giác ngộ an lạc cho mọi người. Đây được xem là trách nhiệm lớn của người xuất gia trong ý nghĩa nỗ lực hành trì và thực chứng lời Phật dạy vì mục đích tự lợi và lợi tha. Cuộc đời có lắm khổ đau bởi mê lầm, luôn cần đến những con người giác ngộ để giúp cho chúng sinh bớt mê lầm khổ đau.

Những người học Phật biết rất rõ rằng Phật chỉ có một bộ y (ba y) và cái bình bát là vật sở hữu nhưng Phật làm lợi ích cho vô số chúng sinh. Sở dĩ như thế là vì Phật là bậc giác ngộ, có đầy đủ giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức. Tài sản Phật để lại cho đời cũng không có gì ngoài những lời dạy về tăng trưởng giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức. Nhưng đó là tài sản vô giá, có khả năng giúp cho con người tự tìm thấy hạnh phúc cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho người khác. Bởi Pháp của Phật có ý nghĩa và giá trị to lớn như vậy đối với sự sống hạnh phúc của muôn loài chúng sinh, cho nên Phật khuyên nhắc người xuất gia phải thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật; vì chỉ có Pháp, tức sự thành tựu giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức mới thực sự khiến cho người xuất gia sống hạnh phúc an lạc và giúp cho người khác được hạnh phúc an lạc. Ngài nêu rõ kết quả lợi lạc, đáng nỗ lực theo đuổi của nếp sống xuất gia thừa tự Pháp5.

“Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người khác đầy đủ giới hạnh;

Tự mình đầy đủ thiền định và khuyến khích người khác đầy đủ thiền định;

Tự mình đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ trí tuệ;

Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát;

Tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến.

Đầy đủ năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người”.

Chú thích:

1. Kinh Thừa tự Pháp, Trung Bộ.

2. Kinh Thừa tự Pháp, Trung Bộ.

3. Kinh Ví dụ con chim cáy, Trung Bộ.

4. Kinh Thừa tự Pháp, Trung Bộ.

5. Kinh Hạnh phúc cho ai (4), Tăng Chi Bộ.

Nguồn: Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 138