Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

Thinh văn đệ tử



Thinh văn đệ tử

Trong các đệ tử Tỷ-kheo đã lâu ngày của Ta, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Añña Koṇḍañña (A-nhã Kiều-trần-như).
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đại trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sāriputta.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, có thần thông, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mahāmoggallāna.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết về hạnh đầu đà, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mahākassapa.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thiên nhãn, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Anuruddha.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuộc gia đình quý tộc, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Bhaddiya Kāḷigodhāyaputta.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, có âm thanh vi diệu, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Lakuṇṭaka (người lùn) Bhaddiya.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, rống tiếng rống con sư tử, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Piṇḍola Bhāradvāja.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết pháp, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Puṇṇa Mantāṇiputta.
Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết giảng rộng rãi những điều được nói lên một cách vắn tắt, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mahākaccāna.
Trong các vị Tỷ-kheo của Ta có thể dùng ý hóa thân, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Cullapanthaka.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thiện xảo về tâm thắng tiến, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Cullapanthaka.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thiện xảo về tưởng thắng tiến, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mahāpanthaka.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, trú không có tranh luận, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Subhūti.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đáng được cúng dường, tối thắng là Subhūti.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tu ở rừng, tối thắng là Revata Khadiravaniya.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tu Thiền, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Kankha Revata.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tinh cần tinh tấn, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sono Koḷiviso.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, khéo nói, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sono Kuṭikaṇṇa.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, nhận được đồ cúng dường, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sīvali.
Trong các đệ tử Tỷ-kheo có tín thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Vakkali.
Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, ưa thích học tập, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Rāhula.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, xuất gia vì lòng tin, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Raṭṭhapāla.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đầu tiên nhận phiếu ăn cơm, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Kuṇḍadhāna.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đầy đủ biện tài, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Vaṅgīsa.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, dễ mến toàn diện, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Upasena Vaṅgantaputta.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Dabba Mallaputta.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, được chư Thiên ái mộ, tối thắng là Pilindavaccha.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, có thắng trí mau lẹ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Bāhiva Dārucītiya.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết giảng vi diệu, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Kumāra Kassapa.
Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta đạt được vô ngại giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Māhākoṭṭhita.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, được nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ānanda.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đầy đủ ức niệm, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ānanda
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đầy đủ cử chỉ tốt đẹp này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ānanda.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, đầy đủ sự kiên trì, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ānanda.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thị giả, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ānanda.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, có đại hội chúng, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Uruvela Kassapa.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, làm cho các gia đình hoan hỷ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Kāludāyī.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, không có bệnh hoạn, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Bakkula.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, nhớ đến các đời sống quá khứ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sobhita.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, trì Luật, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Upāli.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, giáo giới Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Nandaka.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, hộ trì các căn môn, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Nanda.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thiện xảo về hỏa giới, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sāgata.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, giáo giới Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Māhakappina.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, năng khởi biện tài, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Rādha.
Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, mang thô y, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mogharājā.

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Một Pháp,
Phẩm Người Tối Thắng, Phần Các Vị Tỷ Kheo, Trang 49)

Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Māhāpājapati Gotamī.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đại trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Khemā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đầy đủ thần thông, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Uppalavannā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, trì Luật, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Paṭācārā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, thuyết pháp, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Dhammadinnā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tu Thiền, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Nandā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tinh cần tinh tấn, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Soṇā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, thiên nhãn, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sakulā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, có thắng trí mau lẹ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Bhaddā Kundalakesā.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, nhớ đến các thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Bhaddā Kapilānī.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đã chứng đạt đại thắng trí, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Bhaddā Kaccana.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, mang thô y, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Kisāgotamī.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đầy đủ tin thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sigalāmātā.

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Một Pháp, Phẩm Người Tối Thắng, 
Phần Nữ Ðệ Tử Tỷ Kheo Ni, Trang 54)

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Xuất gia là một việc khó



Xuất gia là một việc khó

Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nālaka.
Rồi du sĩ Jambukhādaka đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Jambukhādaka nói với Tôn giả Sāriputta:
- Này Hiền giả Sāriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỷ (abhirati) là điều khó làm.
- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
- Không lâu, này Hiền giả.

(Tương Ưng Bộ Kinh 4, Chương Iv - Tương Ưng
Jambukhādaka, Phần Khó Làm, Trang 416)

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Chớ xem thường vị sa môn trẻ tuổi



Chớ xem thường vị sa môn trẻ tuổi

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala (Kiều-tát-la) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn: …
- Thưa Tôn giả Gotama, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Như ngài Purana Kassapa, Makkali Gosāla, Nigantha Nātaputta, Sañjaya Belatthiputta, Kakudha Kaccāyana, Ajita Kesakambala. Khi con hỏi các vị ấy: "Có tự xem là đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không?", thời họ đã trả lời, không tự xem mình đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy làm sao Tôn giả Gotama, trẻ tuổi, sanh sau đẻ muộn, và chỉ mới xuất gia lại tự cho mình như vậy?
- Thưa Ðại vương, có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường, hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thế nào là bốn?
- Thưa Ðại vương, Khattiya trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thưa Ðại vương, con rắn trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ. Thưa Ðại vương, ngọn lửa trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ. Thưa Ðại vương, Tỷ-kheo trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.
Thưa Ðại vương, bốn loại trẻ tuổi này không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.

(Tương Ưng Bộ Kinh 1, Chương Iii - Tương Ưng Kosala,
Phẩm Thứ Nhất, Phần Tuổi Trẻ, Trang 159)

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Xuất gia khi lớn tuổi


Xuất gia khi lớn tuổi

- Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này. Thế nào là năm?
Thật khó tìm được, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia lớn tuổi lại tế nhị; thật khó tìm được một người có uy nghi tốt đẹp; thật khó tìm được một người nghe nhiều; thật khó tìm được một người thuyết pháp; thật khó tìm được một người trì luật.
Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này.
Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này. Thế nào là năm?
Thật khó tìm được, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia lớn tuổi lại khéo nói; thật khó tìm được một người có khả năng nắm giữ cái gì khéo nắm giữ; thật khó tìm được một người có cử chỉ tốt đẹp; thật khó tìm được một người thuyết pháp; thật khó tìm được một người trì luật.
Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm pháp này.

(Tăng Chi Bộ Kinh 2, Chương Năm Pháp, Phẩm Triền Cái, 
Phần Khó Tìm Ðược (1) - (2), Trang 432-433)

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Ngọn đèn Chánh Pháp


Ngọn đèn Chánh Pháp

Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ānanda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Này Ānanda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ānanda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ānanda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

(Trường Bộ Kinh 1, Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn, trang 584)

NGƯỜI VỀ ĐI (Virian Nguyen)




Người ra đi kỷ niệm xin gửi lại
Để mình ta ngồi với hái chiêm bao
Ngoảnh mặt đi hai dòng lệ tuôn trào
Trong đau khổ nghẹn ngào và tủi cực.

Người ra đi đêm về ta ray rức
Mộng đêm dài thao thức mãi cô đơn
Để trong ta mang nặng kiếp tủi hờn
Khi nhịp đàn ngày xưa giờ đã gãy.

Vì hội ngộ đã làm ta sai quấy
Vì yêu người, vì non dại mà ra
Vì đời ta vẫn mãi cứ là ta
Suốt cuộc đời vẫn thật thà nông nỗi.

Cuộc tình ta vạn lầm trăm vạn lỗi
Nhưng cũng đành làm vui miệng mỉm cười
Người ra đi ta xin cảm ơn người
Và gửi tặng một nụ cười ly biệt.

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Chiếc bè Chánh pháp



Chiếc bè Chánh pháp

Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
- Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: "Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn". Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?
- Bạch Thế Tôn, không.
- Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.
Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.

(Trung Bộ Kinh 1, Kinh Ví Dụ Con Rắn, trang 305)