Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

NHỮNG BẬC CHA MẸ VĨ ĐẠI TRONG KINH ĐIỂN


 dientapdongdat2_6748d
Những ngày đầu của tháng Tám, khắp cả nước Thái bắt đầu nhộn nhịp chuẩn bị cho ngày kỷ niệm sinh nhật của Hoàng hậu Sirikit vào ngày 12/08. Bên cạnh ngày sinh của Quốc vương Bhumibol Adulyadej – Ngày của Cha thì ngày sinh kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit được xem là Ngày của mẹ tại Thái Lan. Hoàng hậu được mọi người tôn kính với danh hiệu là "Người mẹ của cả dân tộc", một vị quốc mẫu khiến bao cho bao thế hệ con dân phải kính phục vì đem đến nhiều lợi ích và sự thịnh vượng cho vương quốc và người dân. Vào ngày này, mọi người tổ chức những buổi lễ kỷ niệm khắp ở khắp mọi nơi, khắp các khu phố, hàng trăm, hàng triệu ngọn nến được thắp lên hòa cùng bài hát vang để ca ngợi và tưởng nhớ ân đức của một bậc mẫu nghi thiên hạ.
Còn tại Việt Nam, những cơn mưa nặng hạt của tháng bảy mưa ngâu báo hiệu một mùa Vu Lan lại trở về. Khắp mọi nẻo đường, khắp các ngôi chùa trong lòng người dân Việt lại rộn ràng với tấm lòng của những người con hướng về các đấng sinh thành. Tuy chỉ là hình thức và lòng hiếu thảo không chỉ có một ngày nhưng cũng là một cách để chúng ta tôn vinh, tưởng nhớ ân đức to lớn của các đấng sanh thành. Những đóa hoa hồng sẽ cài lên áo cho những ai còn cha mẹ, những cành hoa trao nhau như một lời nhắn nhủ rằng: bên ta vẫn còn cha mẹ, vậy hãy ráng vận dụng thời gian này để làm một người con hiếu thảo với cha mẹ. Và những cành hoa trắng được trao tặng để an ủi cho những người con mồ côi…
Nói đến cha mẹ, những bậc đã sanh thành, dưỡng dục và cho ta đến với cuộc đời này thì hẳn nhiên trong lòng mỗi người con, cha mẹ đều là những bậc vĩ đại; nhưng với bài viết này, chúng tôi muốn tìm lại, nhắc lại và tưởng nhớ lại những tấm lòng bao la của các bậc làm cha làm mẹ cách đây hơn 26 thế kỷ trước, được ghi lại trong kinh điển và sớ giải. Các vị này chính là hiện thân cho sự bao la, vĩ đại của lòng mẹ và tình thương vô bờ bến của người cha.
04
  1. Hoàng hậu Sirī Mahāmāyā.
Có lẽ không ai mà không biết đến Hoàng hậu Mahāmāyā vì bà là mẹ của đức Bồ-tát trong kiếp cuối cùng nên được tôn kinh với danh xưng là Phật mẫu. Hoàng hậu sánh duyên cùng với đức vua Suddhodana của tộc Sakya, trị vì kinh thành Kapilavatthu và có một người con trai duy nhất là Thái tử Siddhattha, sau này trở thành bậc Đạo sư, đấng Cha lành vĩ đại nhất của thế gian.
Được biết, trước khi Thiên tử Setaketu trên cõi trời Tusita quyết định giáng trần lần cuối cùng, ngài đã quán xét năm điều kiện cần thiết để xác định thời điểm nào, nơi nào và  người mẹ mà ngài sẽ gá thai vào phải như thế nào? Mẫu thân của vị bồ-tát kiếp chót chắc chắn phải là người nữ có nhiều phước báu, thọ trì giới cấm một cách nghiêm ngặt, không thiếu sót, tích trữ được phước thiện ba-la-mật tròn đủ và có phát nguyện trong quá khứ và được thọ ký sẽ trở thành mẫu thân của một vị phật trong tương lai. Bồ-tát Setaketu quán xét và thấy rằng hoàng hậu Mahāmāyā, chánh hậu của đức vua Suddhodana là người có đầy đủ các điều kiện, và tuổi thọ của bà chỉ còn đúng 10 tháng 7 ngày. Ngài thấy được những đức hạnh của hoàng hậu nên chọn bà làm mẹ trong kiếp cuối cùng của ngài để tái sanh, hoàng hậu Mahāmāyādevī sẽ là vị Phật mẫu theo như ý nguyện của bà đã mong mỏi.
Hoàng hậu Mahāmāyā phát nguyện làm mẹ của một vị Phật từ 91 kiếp trước, dưới thời của đức Phật Vipassī. Khi ấy, bà là một trong hai công chúa của Vua Bandhumā. Một hôm, vua cha nhận được tặng vật của chư hầu gồm một mảnh trầm hương vô giá và một vòng bông trị giá trăm ngàn đồng vàng. Nhà vua ban cho bà mảnh trầm hương và cho em gái kế bà vòng bông. Bà mài trầm lấy bột, tươm tất đựng trong hộp để dâng lên đức Phật. Bột trầm được thoa lên thân Phật cũng như rải trong Hương thất của Ngài. Do đó bà được nhìn thấy thân kim sắc của Phật và muốn được làm mẹ người có thân vàng như vậy.[1]
Từ khi Bồ-tát giáng sanh vào bào thai, hoàng hậu Mahāmāyā lúc nào cũng cảm thấy tâm được an vui, thân được an lạc, không một chút cảm giác đau đớn, khó chịu nào khởi lên nơi bà. Hoàng hậu giữ gìn ngũ giới một cách trong sạch, không một chút bợn nhơ, và đặc biệt là hoàng hậu có thể nhìn thấy hoàng nhi của mình với tất cả bộ phận và chân tay, “ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: "Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lạt”.[2]
Sở dĩ hoàng hậu có thể nhìn từ bên ngoài mà thấy được đứa con đang ở trong bào thai như hoa sen của bà là do oai đức của các việc phước mà bà đã làm trong nhiều kiếp quá khứ, nên lớp da trên thân và màu da trở nên sạch sẽ và láng mịn khác thường, không chút tỳ vết. Da ở trên vùng bụng của bà cũng sạch sẽ và láng mịn và trong suốt như tấm kính. Như vậy mẹ của Bồ tát có thể thấy thai nhi bằng mắt thường của bà xuyên qua lớp da mỏng trên bụng như món bảo vật ở trong cái hộp bằng pha lê.
Do oai lực của bồ-tát, bốn vị thiên vương luôn luôn hầu trực và đứng canh gác bốn phương, “không cho một ai, người hay không phải loài người, được hãm hại vị Bồ-tát”[3] trọn mười tháng như thế.
Từ ngày thọ thai đức Bồ-tát, hoàng hậu được Tứ đại thiên vương hộ trì. Bà không còn thiết tha với nam nhơn, và hài nhi trong bụng bà có thể được nhìn thấy từ bên ngoài.  Sau mười tháng mang thai, bà lên đường về quê Devadaha để hạ sanh, theo tục lệ lúc bấy giờ, bà ghé vườn cây sāla ở Lumbinī nghỉ và hạ sanh Thái tử ngay trong lúc bà đang đứng vịn cành sāla. Thế là Hoàng hậu cùng đoàn tùy tùng trở lại Kapilavatthu. Sau khi hạ sinh thái tử được bảy ngày, hoàng hậu Mahāmāyā hết thọ mạng[4], mệnh chung và tái sanh làm một vị thiên nam tại cõi trời Tusita.[5] Đây là thông lệ của một vị Phật mẫu, chớ không phải vì lẽ sanh Thái tử mà chết. Vì người đã sanh ra một đấng Giác Ngộ sau này, người ấy không còn làm vợ người nam nào nữa cả và hơn nữa trong bụng ấy không thể còn chứa một chúng sanh nào nữa được.
Sau khi hoàng hậu thăng hà, đức vua Suddhodana phong cho người em gái của hoàng hậu là Mahāpajāpatī Gotamī trở thành hoàng hậu, thay thế để chăm sóc thái tử.
Vào mùa an cư thứ 7 của Thế Tôn, Ngài đã an cư trên cõi trời Tāvatiṃsā[6] ba tháng mùa mưa và thuyết giảng Abhidhamma cho mẫu hậu của mình, lúc đó đã là một vị nam thiên tử. Sau thời pháp, vị thiên tử chứng đắc được Thánh quả Dự-lưu.
Có thể nói rằng, Hoàng hậu Mahāmāyā là một người mẹ vĩ đại, một vị quốc mẫu của thế gian vì ân đức của bà quá to lớn. Mặc dù ít được đề cập đến trong kinh điển nhưng danh xưng "Phật mẫu – Buddhamātā" đã là một sự tán dương ân đức của Hoàng hậu Mahāmāyā, bà xứng đáng là một người phụ nữ có tầm ảnh hưởng quan trọng, vĩ đại nhất trong lịch sử của toàn nhân loại. Bởi vì danh hiệu Phật mẫu không phải ai cũng đạt được, cho nên người mẹ vĩ đại đầu tiên mà chúng tôi muốn đề cập đến chính là Hoàng hậu Sirī Mahāmāyā.
57
  1. Di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī.
Di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī là em gái của hoàng hậu Mahāmāyā, hai chị em cùng kết duyên với vua Suddhodana. Từ khi sanh ra, các thầy tướng số đã đoán chắc tương lai của hai chị em sẽ có người con là vị vua Chuyển luân vương.
Sau khi hoàng hậu Mahāmāyā thăng hà, đức vua phong cho người em gái của hoàng hậu là Mahāpajāpatī Gotamī trở thành chánh hậu, thay thế để chăm sóc thái tử. Hoàng hậu Mahāpajāpati Gotamī rất thương yêu thái tử và chăm sóc thái tử như đứa con ruột do mình đứt ruột đẻ ra. Di mẫu Mahāpajāpati Gotamī có một hoàng tử, tên là Nanda, khi nhận trách nhiệm chăm sóc cho thái tử, bà đã giao con trai của mình cho các nhũ mẫu chăm sóc để bà có đủ thời gian chăm sóc cho thái tử. Di mẫu được xem như là một mẹ tuyệt vời.
Vào mùa an cư thứ năm 5, đức vua Suddhodana thăng hà, di mẫu cùng 500 công nương dòng Sakya đã tự bỏ tóc, đắp y màu hoại sắc và đi bộ đến Vesāli để xin đức Phật cho nữ giới được xuất gia. Tôn giả Ānanda thấy di mẫu với chân sưng vù, áo lấm bụi bặm, khổ đau, đứng khóc than ngoài cửa nên đã vào bạch xin đức Phật cho nữ giới được xuất gia. Sau đó, đức Phật đồng ý với điều kiện các vị ấy phải chấp thuận tám kính pháp. Và di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī trở thành người đầu tiên xuất gia Tỳ-khưu Ni trong Giáo pháp này. Về sau, chính đức Phật tuyên dương di mẫu là vị đệ tử trưởng tràng trong hàng Ni chúng[7].
Có thể nói rằng, sau hoàng hậu Mahāmāyā, di mẫu Mahāpajāpati Gotamī là người trực tiếp nuôi lớn Thái tử Siddhattha, bà Mahāpajāpatī Gotamī có nhiều công đức đối với đức Thế Tôn, là dì ruột, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa khi người mẹ ruột qua đời[8].
Vào lúc cuối đời, trước khi viên tịch Níp-bàn, Trưởng lão Ni Mahāpajāpatī Gotamī đến đảnh lễ đức Thế Tôn và nói lên những vần kệ cảm động như sau:
Bạch đấng Thiện thệ, con là mẹ của ngài.
Bạch đấng Thiện thệ, hình hài và thân xác này của ngài đã được lớn mạnh là nhờ con.
Nhờ con, ngài đã được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát.
Đối với hàng phụ nữ, danh xưng “hoàng hậu – mẹ của đức vua” là dễ dàng đạt được. Còn danh xưng “người mẹ của đức Phật” là đạt được vô cùng khó khăn.
Và bạch đấng Đại hùng, nhờ ngài con đã đạt được điều ước nguyện ấy của con. [9]
Chúng ta có thể thấy rằng, một người làm mẹ, suốt đời vì con, lo cho con trưởng thành và khôn lớn, sau này chính người con đó trở thành một chỗ dựa vững chắc cho người cha, người mẹ; đó là một điều hạnh phúc của các bậc làm cha mẹ. Trường hợp này, cả hai vị hoàng hậu đều là những người có công sanh- dưỡng đức Bồ-tát và chính Thế Tôn đã tế độ cho bà, trở thành vị Đạo sư, người Cha hướng dẫn tinh thần vĩ đại nhất trong đời bà.
Bạch đấng Thiện thệ, con là mẹ của Ngài. Và bạch đấng Anh hùng, Ngài là cha của con. Bạch đấng Bảo hộ, Ngài là người ban cho con niềm an lạc trong Chánh pháp. Bạch Ngài Gotama, con được sanh ra bởi Ngài.
Bạch đấng Thiện thệ, hình hài và thân xác này của ngài đã được lớn mạnh là nhờ con. Còn Pháp thân không thể phê phán của con đã được tăng trưởng là nhờ vào Ngài.
Nhờ con, ngài đã được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát. Nhờ Ngài, con cũng đã được uống chính dòng sữa Giáo pháp thanh tịnh vô cùng tận.
35
  1. Đức vua Suddhodana.
Tấm lòng của hai người mẹ vĩ đại thì tình cha cũng bao la vô bờ bến, đức vua Suddhodana chỉ có duy nhất một vị Thái tử là Bồ-tát Siddhattha. Ngày con từ bỏ cung vàng ra đi, phụ vương không hề hay biết nhưng tình cha thương con rất sâu rộng chắc hẳn vua rất đau lòng. Bao nhiêu thứ cao quý có mặt trên thế gian này, vua đều dành cho con của mình, chỉ mong sau này con nối nghiệp vương tộc mà thôi.
Lúc nghe các Bà-la-môn tiên đoán tương lai của Thái tử Siddhattha, vua Suddhodana dành mọi quyền quý cao sang để giữ chân Thái tử. Lúc ông thấy chân Thái tử đặt lên đầu Đạo sư Asita – vị Tế sư của vua cha và thầy của chính ông, vua Suddhodana rất ngạc nhiên và bắt đầu cung kính đảnh lễ Thái tử[10]. Trong lễ Hạ điền, vào năm Thái tử bảy tuổi, vua đã cung kính đảnh lễ Thái tử lần thứ hai khi ông chứng kiến bóng cây jambu không xê dịch để che cho Thái tử tham thiền[11].  Về sau, khi Thái tử bỏ ra đi để tìm đạo giải thoát, nhà vua càng tin tưởng hơn, tin rằng Thái tử không bao giờ mạng chung trước khi đắc đạo, dầu có tin đưa về triều Ngài đã chết vì khổ hạnh[12].
Sau khi biết được Thái tử, con của mình đã đắc đạo, trở thành một vị Phật Chánh Đẳng Giác, Vua Suddhodana cử sứ giả đi cùng 10 ngàn người đến Veḷuvana ở Rājagaha thỉnh đức Phật về triều, nhưng tất cả đều xin gia nhập Tăng Đoàn sau khi nghe Phật thuyết pháp. Chín đoàn sứ giả ra đi, không một ai trở về, lòng cha càng thêm mong chờ, vua đã gởi Đại thần Kālūdayi đưa lời mời thỉnh Phật mới về Kapilavatthu. Và duyên lành chín muồi, Thế Tôn đã trở lại quê hương lần đâu tiên, tại đây Ngài trú ở Nigrodhārāma. Trong thời gian ở đây, Ngài thuyết cho vua cha nghe truyền thống khất thực của chư Phật, một truyền thống mà Vua cha không biết nên than phiền khi thấy Ngài đi xin của bố thí ngoài đường. Sau bài pháp này, Vua Suddhodana đắc quả Tu–đà-huờn. Tiếp theo, vua đắc quả Thánh Tư-đà-hàm sau khi nghe thời pháp tuỷ hỷ của đức Phật nói sau bữa cúng dường trong cung[13], đắc quả Thánh A–na–hàm sau khi nghe đức Phật thuyết về câu chuyện tiền thân Mahādhammapāla Jātaka[14]. Và vào mùa an cư thứ năm của đức Thế Tôn, vua Suddhoadana đắc quả A-la-hán khi nằm trên giường bệnh được Đức Thế Tôn từ Vesāli về thuyết pháp[15]; có lẽ đức vua là vị cư sĩ đắc A-la-hán tiêu biểu nhất được ghi nhận lại trong kinh điển.
90
  1. Đức vua Bimbisāra.
Vua Bimbisāra trị vì kinh thành Rājagaha của xứ Magadha, lên ngôi vua từ năm 15 tuổi. Lần đầu tiên vua gặp Bồ-tát Siddhattha tại núi Paṇḍava ở Rājagaha; lúc bấy giờ, Bồ-tát chỉ vừa xuất thế ly gia. Nhà vua thấy vị ẩn sĩ trẻ đi ngang qua cung, bèn gởi người theo dõi. Lúc Ngài nghỉ thọ trai, nhà vua đến và mời Ngài về triều làm quan.  Ngài từ chối và bộc bạch ước nguyện mình. Vua Bimbisāra chúc Ngài thành đạt nguyện vọng của mình và yêu cầu Ngài trở lại viếng Rājagaha để tế độ cho mình. Để giữ lời hứa, đức Phật du hành đến Rājagaha ngay sau khi mãn mùa an cư đầu tiên tại Isipatta. Bấy giờ Ngài trú tại Supatiṭṭha trong Laṭṭhivanuyyāna, và Vua Bimbisāra đi với mười hai vạn gia chủ đến đảnh lễ Ngài.  Đức Phật thuyết pháp và mười một vạn gia chủ cùng nhà vua đắc quả Dự-lưu.  Hôm sau, Phật và chúng Tỳ-kheo tuỳ tùng được thỉnh vô cung thọ trai.  Thiên chủ Sakka hiện làm thanh niên dẫn đầu, vừa đi vừa nói kệ tán thán Phật.  Sau buổi thọ trai, nhà vua xối nước phát tâm cúng dường vườn ngự uyển Veḷuvana đến đức Phật, đây là ngôi Tịnh-xá đầu tiên trong Phật giáo[16]. Từ ấy cho đến ngày vua băng hà, trong 37 năm dài, vua Bimbisāra luôn chú tâm lập công đức phát huy đạo pháp. Nhà vua còn thọ trì tám giới sáu ngày mỗi tháng để làm một tấm gương tốt cho thần dân của mình[17].
Vua Bimbisāra băng hà trong hoàn cảnh rất thương tâm. Các nhà tiên tri từng tiên đoán rằng Thái tử Ajātasattu sau này sẽ gieo tai hoạ cho ông.  Do đó, Chánh hậu Kosaladevī muốn phá thai, nhưng nhà vua chẳng những không chịu nghe còn rất thương quý hoàng thái tử ngay từ lúc ra đời. Khi đã trưởng thành, Thái tử Ajātasattu nghe theo lời xúi dục của Tỳ-kheo Devadatta, thái tử sẽ giết cha để xoán ngôi, còn Devadatta sẽ hãm hại Đức Phật để nhận quyền thống lĩnh Tăng đoàn. Thái tử lập mưu giết vua cha xoán ngôi nhưng bại lộ, chẳng những phụ vương không ép tội mà còn chấp nhận thoái vị, truyền ngôi cho thái tử. Lẽ ra đã đoạt được điều mong ước, thái tử phải biết tri ân và phụng dưỡng phụ hoàng chu đáo, nhưng không ngờ tân vương vừa lên ngôi đã bắt giam phụ hoàng của mình vào trong ngục tối, không được ai thăm viếng, trừ hoàng thái hậu Kosaladevī. Bà đến ngục với chiếc chén vàng đầy cơm giấu trong y phục. Được một thời gian thì bị chính đứa con của mình cấm không cho đem thức ăn vào nhà ngục nữa. Hoàng hậu lén giấu thức ăn vào búi tóc đem vô cho vua nhưng cũng bị phát hiện. Hết cách, hoàng hậu phải tắm rửa sạch sẽ rồi thoa mật ong, những thực phẩm thượng vị lên thân thể của mình, rồi đi vào ngục thất, dùng những chất bổ dưỡng ấy cho chồng của mình sống qua tháng ngày. Sự việc ấy cũng bại lộ, hôn quân ngỗ nghịch cấm không cho mẫu hậu vào thăm vua cha nữa.
Một ngày nọ, Ajātasattu cho một người đem dao kéo đến ngục thất, vua cha thấy vậy tưởng con mình đã hồi tâm chuyển ý nên cho người đến cắt tóc, đón mình về cung. Ai ngờ, chính niềm vui ấy đã làm vua cha lầm tưởng. Người thợ ấy được lệnh ông vua con vào trong ngục thất để cắt gót chân của vua cha, xát muối vào trong gót chân và hơ trên lửa nóng[18]. Ôi đau đớn, ôi xót xa. Đau đớn vì vết thương hành hạ thể xác, xót xa vì chính đứa con thân yêu của mình sai người giết mình. Vua Bimbisāra mạng chung, sanh làm Dạ-xoa Janavasabha trong dòng họ của Thiên vương Vessavaṇa
Cùng lúc ấy, ông vua trẻ nhận được tin hoàng hậu của mình đã sanh một hoàng nam. Niềm vui tràn ngập đối với vị vua trẻ lần đầu tiên làm cha. Vua Ajātasattu bồng con đến với mẫu hậu, đã hỏi mẫu hậu xem phụ hoàng có từng thương yêu mình như mình yêu thương con của mình không?
Mẫu hậu kể lại câu chuyện về tình thương của vua cha dành cho thái tử khi thái tử chưa lọt lòng. Khi ấy, các vị quan chiêm tinh đoán biết sau này vị thái tử sinh ra sẽ là người giết cha xoán ngôi nên có ý định khuyên hoàng hậu nên phá thai. Vua cha không chịu. Hoàng hậu cũng đôi lần có ý định như thế rồi đức vua cũng cản ngăn và sẵn sàng chấp nhận sự việc ấy. Đến khi thái tử được vài tuổi, thái tử bị nổi mụn nhọt trên tay, đau nhức khóc lóc dữ dỗi, vua cha đau lòng không biết làm sao nên đã ngậm ngón tay ấy vào trong miệng để thái tử bớt đau nhức. Và đúng như vậy, thái tử đã nín thật. Nhưng mụn nhọt ấy đã chính mùi, máu mủ vỡ ra, vua cha không nỡ bỏ ra để con đau nhức nên đã nuốt luôn những máu mủ hôi thúi ấy vào trong miệng. Mẫu hậu nói với vua con rằng : khó mà kiếm được một người cha thương con hết mình như thế.
Nghe qua câu chuyện của mẫu hậu kể, vị vua trẻ cảm thấy thương cha và hối hận nên liền hối hả chạy đến ngục thất ra lệnh thả phụ hoàng ra. “Thả phụ hoàng ta ra! Thả phụ hoàng ta ra!” Lời vua trẻ sao mà thống thiết nhưng đã muộn rồi, vị thánh vương đã ra người thiên cổ. Không bao lâu sau, Hoàng thái hậu Kosaladevī lâm chung vì sầu muộn.
58
  1. Thiếu phụ Paṭācārā.
Paṭācārā là một tiểu thư rất xinh đẹp, con gái vị thủ ngân khố của nhà vua ở Sāvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành, mặc dù được cha mẹ sắp đặt gả cho một gia đình giàu có, môn đăng hộ đối nhưng nàng tư thông với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ nàng định ngày gả nàng cho một công tử, nàng trốn đi với tình nhân. Chàng trai dắt nàng đi thật xa, đến định cư tại một làng nọ, vào rừng phát rẫy cày ruộng rồi đem cây, củi, lá về nhà. Còn tiểu thư thì ở nhà phải ôm bình đi xách nước, chẻ củi nấu cơm, cam lòng chịu làm một người vợ ngheo khổ. Thế rồi nàng có thai. Đến khi thai đã đủ tháng, nàng yêu cầu chồng đưa về nhà cha mẹ để sanh nở, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, báo tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp nàng giữa đường và khi ấy thì nàng sinh được người con trai, rồi hai vợ chồng lại đi trở về nhà sống như trước.
Một thời gian sau, nàng lại có mang. Khi thai đủ tháng, nàng cũng van xin chồng như trước mà không được, rồi cũng lén chồng ẵm con ra đi. Chồng nàng đuổi theo gặp nàng, nhưng nàng không chịu trở lại. Người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng, nàng bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho đến sáng.
Ðến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm. Vì mưa to, nước sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt, nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi. Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa khóc vừa đi về thành Sāvatthi.
Khi đi vào thành, nàng lại biết tin trận mưa to gió lớn đêm hôm đã làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, cả cha mẹ và người em đều thiệt mạng, mọi người vừa làm lễ hỏa táng xong. Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:
Chết rồi hai đứa con thơ,
Giữa đường chồng chết, bơ vơ một mình.
Mẹ, cha, em ở gia đình,
Lửa thiêu mất xác bóng hình còn đâu.[19]
Rồi nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng, và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Paṭācārā (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ nhớp bụi bặm trên nàng.
Khi ấy, Thế Tôn đang thuyết pháp ở Jetavana, Ngài thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh lại. Ngài nói cho nàng hiểu cái chết là điều không thể tránh, và thuyết dạy về Tứ diệu đế. Sau bài pháp thoại, nàng đắc quả Dự lưu và xin được xuất gia[20]. Một thời gian sau, nhờ nỗ lực tu tập và được đức Thế Tôn hướng đạo, Tỳ-khưu Ni Paṭācārā đắc quả A-la-hán[21]. Về sau Tỳ-khưu Ni Paṭācārā trở thành một vị trưởng lão ni mà nhiều phụ nữ bị sầu khổ chi phối thường đến xin bà chỉ giáo[22]. Tỳ-khưu Ni Paṭācārā được đức Phật tuyên bố là vị đệ tử tối thắng về trì Luật bên hàng Ni chúng[23].
59
  1. Nàng Kisā Gotamī.
Nàng tên thật là Gotamī, con gái của một gia đình nghèo khổ trong kinh thành Sāvatthi, vì nàng yếu đuối nên thường bị gọi là Kisā Gotamī (Gotamī ốm yếu). Khi lập gia đình, nàng bị gia đình chồng khinh thường và được gọi là con gái một người không có gì. Nhưng khi nàng có con, nàng được bên nhà chồng thương yêu, chiều chuộng rất nhiều. Hạnh phúc đẹp như một giấc mơ bất thình lình vụt mất, khi đứa bé vừa đến tuổi có thể chạy được, nó bất ngờ bệnh rồi chết.
Chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng như thế, nàng cảm thấy đau đớn tột cùng, và ôm đứa con chết vào lòng và đi vào từng nhà xin thuốc cứu con. Người dân cho là nàng vì thương con mà hóa điên nhưng nàng đâu biết gì, chỉ mong tìm thuốc cứu sống đứa con thân yêu và cũng là cứu sống hạnh phúc của gia đình nàng. Tấm lòng của người mẹ bao la, nàng bồng con đi hết xóm này đến làng khác nhưng không ai có thể cứu nỗi một cái xác chết như thế.
Và rồi, có người thương xót khuyên nàng đến đức Phật để xin thuốc. Không biết đức Phật la ai, vị thầy thuốc đó như thế nào, nhưng vì con, nàng cũng lần đường đến Tịnh-xá để xin đức Phật cứu giúp đứa con yêu của mình. Thế Tôn thấy được căn duyên của nàng, bèn nói: "Hãy đi đến nhà nào không có người chết, và xin một nhúm hạt cải về đây."
Nàng vâng lời, đi vào nhà đầu tiên và yêu cầu như vậy, nhưng bị từ chối, vì trong nhà có người chết. Nhà này sang nhà kia, thôn này sang xóm nọ, hạt cải thì nhà nào cũng có nhưng không tìm đâu ra được nhà nào chưa từng có người chết. Thế rồi, duyên lành giác ngộ đã đến, nàng nhận chân được lời dạy khéo của Thế Tôn. Tình thương dành cho con đến đây vừa phải lẽ, nàng đem con vào nghĩa địa rồi trở về tịnh-xá xin gia nhập vào Ni đoàn của đức Thế Tôn[24]. Một thời gian sau, Tỳ-khưu Ni Kisā Gotamī chứng đắc Thánh quả A–la–hán[25] và được đức Phật tán dương là vị đệ tử Tỳ-khưu ni đệ nhất về đặc hạnh mang thô y (lūkhacīvaradharāṇaṃ)[26].
Mỗi người một hoàn cảnh, từ những vị vua chúa, từ một gia đình giàu có cho đến một người nghèo khổ, tất cả những người làm cha làm mẹ luôn có một tấm lòng từ ái, bao dung với con cái. Tình thương vô cùng vĩ đại đã trở thành những trái tim bất diệt trong máu huyết của chúng ta. Chỉ khi nào trở thành cha của đứa bé, chỉ khi nào mang nặng đẻ đau mới thấy được ân đức sâu dày, cực khổ của cha mẹ là thế nào. Sông có lúc nước ròng, nước lớn, biển có lúc sóng tràn bờ nhưng cũng có lúc êm đềm nhưng tình cha mẹ với con cái luôn nồng ấm và tràn đầy cả một tấm lòng, cả một trái tim nhỏ bé nhưng còn bao la hơn nước bốn bể đại dương.
Kính mừng Ngày của Mẹ (12/08) của Thái Lan và Vu Lan báo hiếu ở Việt Nam, kính chúc tất cả những đấng sinh thành luôn nhiều sức khỏe, an lạc và mãi là bóng mát trong đời của những người con.

[1] JāA.vi,480ff
[2] D.ii,14
[3] D.ii,13
[4] Hoàng hậu mệnh chung không phải vì sau khi sanh thái tử mà vì tuổi thọ đã hết. Chúng ta hãy xem lại năm điều kiện của bồ-tát khi quán xét trước lúc giáng trần, tuổi thọ của Phật mẫu chỉ còn lại 10 tháng 7 ngày.
[5] ThagA.ii,226
[6] BuA.4
[7] A.i,25
[8] Vin.ii,255
[9] Ap.ii,531
[10] JāA.i,54
[11] JāA.i,57f
[12] JāA.i,67
[13] JāA.i,99
[14] JāA.iv,55
[15] ThigA.141
[16] Vin.i,35
[17] PvA.209
[18] Trong một tiền kiếp, ông đi giày trong sân của một tịnh xá nên ngày nay phải chịu khổ ấy.
[19] Chú giải Kinh Pháp cú, kệ số 113 (Cố Trưởng lão HT Pháp Minh dịch Việt).
[20] DhpA.ii,260ff
[21] DhpA.iii,434f
[22] ThigA.47,117,122
[23] A.i,25
[24] DhpA.i.270ff
[25] ThigA.174ff
[26] A.i,25

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

HÀNH XẢ BA-LA-MẬT (UPEKKHĀPĀRAMĪ)

Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Phạm-thiên Nārada, Ngài thực hành hạnh Xả Tâm Balamật. Ngài thuyết phục được vua Aṅgati về Chân Lý.
Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Phạm-thiên Nārada, Ngài thực hành hạnh Xả Tâm Balamật. Ngài thuyết phục được vua Aṅgati về Chân Lý.
Câu chuyện hiện tại:
Lúc bấy giờ uy danh của bậc Đạo Sư về việc hoằng dương Chánh pháp đã bắt đầu lừng lẫy. Sau khi Ngài giáo hóa các vị tu khổ hạnh khác cùng Tôn giả Uruvela Kassapa, Ngài liền đi đến Lạc Viên Laṭṭhivana, với cả ngàn Tỷ kheo vây quanh, các vị này trước đây là những đạo sĩ khổ hạnh. Ngài muốn thuyết phục vua Magadha giữ lời hứa cúng dường Tinh xá Veluvana và lúc ấy vua Magadha cùng đến với đám triều thần đông cả mười hai vạn người.
Sau khi đảnh lễ đức Phật xong, vua ngồi xuống, rồi một vấn đề được đưa ra tranh luận giữa các Bà-la-môn và các gia chủ trong đám tùy tùng của vua: Phải chăng Tôn giả Uruvela Kassapa phục tùng sự giáo hóa của bậc Đại Sa Môn, hay là bậc Đại Sa Môn phục tùng sự hướng đạo tu hành của Uruvela Kassapa?
Lúc ấy đức Thế Tôn nghĩ thầm: "Ta sẽ cho hội chúng thấy rằng Ca-diếp đã phục tùng sự giáo hóa của Ta".
Rồi Ngài ngâm kệ này:
Thấy gì Hiền giả Kas-sa-pa,
Người ở rừng U-ru-ve-la,
Lừng lẫy tiếng tăm về khổ hạnh,
Sao ông từ bỏ lửa thiêng xưa,
Này Ca-diếp hỡi, nghe ta hỏi:
Sao bỏ tế đàn với lửa kia?
Lúc ấy vị trưởng lão đã hiểu rõ ý nghĩa câu hỏi của đức Phật, liền đáp kệ này:
Tế lễ nói lên ngũ dục trần:
Sắc, thanh, hương, vị với giai nhân,
Và khi biết những điều như thế,
Chỉ thấy trong đời sống thế gian,
Đều bất tịnh, con không thích thú,
Tế đàn dâng lễ cúng Thiên thần.
Rồi để tỏ ra mình là đệ tử Phật, vị Tỷ-kheo này đặt đầu lên chân đức Phật và nói:
- Đức Thế Tôn là Đạo Sư của con, con là đệ tử của Ngài.
Nói xong ông bay lên không bảy lần đến ngọn một cây cọ dừa (tala), hai cây tala cho đến bảy cây tala, rồi trở xuống đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi qua một bên. Hội chúng trông thấy việc hy hữu như thế, liền tán thán uy danh củc bậc Đạo Sư, đồng nói to:
- Cao cả thay thần lực của đức Phật, nên mặc dù đã tin tưởng vững chắc vào uy lực mình, mặc dù tự cho mình là Thánh nhân, Tôn giả Uruvela Kassapa cũng đã phá bỏ mọi vọng chấp sai lầm và xin quy y với đức Như Lai.
Bậc Đạo Sư đáp:
- Việc ấy cũng không kỳ diệu gì, khi ngày nay Ta đã đạt Thắng trí viên mãn và giáo hóa vị này; vì ngày xưa khi ta còn là một Bà-la-môn tên gọi Nārada và còn tham đắm dục lạc, ta cũng phá tan mọi vọng chấp sai lạc của ông và khiến ông phải quy phục.
Rồi theo lời thỉnh cầu của thính chúng. Ngài kể câu chuyện về Bậc Đại Trí Mahānāradakassapa - Mahānāradakassapa Jātaka (Jā. 544).
Câu chuyện quá khứ:
Vua Aṅgati thành Mithilā là minh quân trị vì theo chánh pháp. Trong một đêm trăng, ông hỏi các quan đại thần làm cách nào để hưởng lạc. Alāta tâu đi chinh phục; Sunāma trình tìm dục lạc trong ca múa; Vijaya đề nghị đến viếng Samôn hay Bàlamôn.
Ông đi viếng Ẩn sĩ Guṇa thuộc dòng tộc Kassapa đang trú trong một công viên thành phố. Guṇa thuyết rằng không có quả báo thiện hay ác nào khi ta tuân giới luật, không có đời sau, không có các đức tính như dũng mãnh hoặc can trường; số phận các thế nhân đã được tiền định, cũng như đuôi con tàu phải đi theo dấu con tàu vậy. Alāta tán đồng quan điểm của Guna.
Ông nhớ lại tiền kiếp làm thợ săn bò tên là Piṅgala đã giết biết bao nhiêu sinh mạng bò, nhưng vẫn được tái sanh vào gia đình của một đại tướng, và trong kiếp này làm tướng quân. Lúc ấy có nô lệ Bījaka đang hành trì trai giới cũng đến nghe Guṇa thuyết pháp. Khi nghe Kassapa và Alāta đối đáp như vậy, gã bật khóc bởi nhớ lại tiền kiếp làm phú thương Bhavaseṭṭhi trong thành Sāketa, chuyên trì công đức, bố thí rộng rãi, nhưng giờ bị sanh làm con một kỹ nữ. Và ngay bây giờ gã vẫn tiếp tục nhường phân nửa thức ăn cho kẻ nào cần thực phẩm, nhưng nghèo khó vẫn hoàn nghèo khó!
Vua Aṅgati công nhận Guṇa có lý nên bắt đầu đi tìm dục lạc. Ông cử Quan nhiếp chánh Candaka trông coi việc nước và cấm không ai được quấy rầy ông. Có Công chúa Rujā đến xin vua cha một ngàn đồng để lập hạnh bố thí. Ông phán rằng ông không từ chối nếu ái nữ duy nhứt của ông mua dục lạc hay xa xí cho mình, nhưng không chu cấp cho nàng làm từ thiện hay chấp thuận cho nàng phí sức trong việc trai giới.
Rujā trình rằng các đại thần không nhìn xa, chỉ nhớ một hai kiếp trước của mình, nên không thể phán đoán được. Nàng kể cho vua cha nghe về các tiền kiếp mình: làm thợ rèn ở Rājagaha phạm tội ngoai tình; làm con của phú thương ở Kosambī lập nhiều công đức; sanh xuống địa ngục; làm con cừu bị thiến ở Bheṇṇākaṭa; làm con khỉ; làm con bò giữa dân chúng Dasaṇṇa; làm kẻ bán nam bán nữ giữa dân chúng Vajji; làm Thiên nữ trên cõi Tāvatiṃsa. Thiện nghiệp của nàng đến hồi kết quả nên nàng được sanh giữa chư Thiên và loài người. Trong bảy kiếp nàng làm nam chư Thiên trên cõi Tāvatiṃsa, và ngay trong hiện tai, nàng được Thần Java kết cho vòng hoa.
Nàng thuyết suốt đêm nhưng không thuyết phục được vua cha. Lúc bấy giờ Phạm thiên Nārada Kassapa (Bồ Tát) phóng nhãn quang quan sát thế gian, thấy Rujā cầu nguyện, hạ thế giả dạng làm ẩn sĩ để được nhà vua mời vào thỉnh ý. Vị ẩn sĩ tán thán thiện hành, bố thí, quảng đại và thuyết về các cõi khác. Nhà vua phá lên cười và thách ẩn sĩ cho vay để kiếp sau ông sẽ trả gắp đôi. Ẩn sĩ kễ cho ông nghe về các địa ngục mà ông sẽ bị đoạ nếu không kịp giải thoát khỏi tà thuyết và nêu gương của các bậc tiên vương được lên Thiên giới nhờ hành trì chánh đạo.
Vua Aṅgati sau cùng thấy được lỗi lầm mình và phát nguyện sẽ thân cận với bạn lành. Ẩn sĩ Nārada Kassapa xưng danh tánh mình rồi bay về Thiên giới với thần thông siêu phàm.
Nhận diện tiền thân:
Vua Aṅgati là Tôn giả Uruvela Kassapa,
Alāta là Devadatta,
Sumāna là Tôn giả Bhaddiya,
Vijaya là Tôn giả Sāriputta,
Bījaka là Tôn giả Moggallāna,
Guṇa là Sunakkhatta người Licchavī,
Rujā là Tôn giả Ānanda.


An nhiên hành xả giữa đời
Khen chê đặng thất khổ vui thường tình
Ðiều tâm giữ ý quân bình
Trong cơn bão loạn biết gìn chánh tri
Hy sinh ngoại vật tứ chi
Hoặc luôn mạng sống sá gì huyển thân
Phật xưa pháp độ vẹn toàn
Chúng con nguyện bước theo chân Ðại Từ

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

TÂM TỪ BA-LA-MẬT (METTĀPĀRAMĪ)

Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Suvannasama, Ngài thực hành hạnh Từ Tâm Balamật. Ngài chăm sóc cha mẹ mù lòa. Ngài nọ, Ngài bị Kapilayakkha, vua xứ Benares, bắn chết. Cha mẹ Ngài cầu nguyện vàb thực hiện một lời nguyền chân thật, và mũi tên độc rớt ra khỏi thân Ngài, và Ngài sống trở lại. Và Ngài cũng thực hiện lời nguyền tương tự, và cha mẹ Ngài mắt sáng trở lại, thoát khỏi cảnh mù lòa.
Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Suvannasama, Ngài thực hành hạnh Từ Tâm Balamật. Ngài chăm sóc cha mẹ mù lòa. Ngài nọ, Ngài bị Kapilayakkha, vua xứ Benares, bắn chết. Cha mẹ Ngài cầu nguyện vàb thực hiện một lời nguyền chân thật, và mũi tên độc rớt ra khỏi thân Ngài, và Ngài sống trở lại. Và Ngài cũng thực hiện lời nguyền tương tự, và cha mẹ Ngài mắt sáng trở lại, thoát khỏi cảnh mù lòa.
Câu chuyện hiện tại:
Tại chùa Kỳ Viên (Jetavana), có một thanh niên con ông Bá Hộ xuất gia tu hạnh ở rừng 12 năm không kết quả. Sau được tin cha mẹ bị sa sút thành người ăn xin, tỳ kheo đó bèn từ rừng trở về, đi khất thực nuôi dưỡng cha mẹ, lắm khi tự nhịn ăn. Đức Thế Tôn biết được liền ngợi khen vị tỳ kheo đó như sau: "Tốt lành thay! Tốt lành thay! Ông đang đi con đường ngày xưa Ta đã đi qua, ngày xưa khi đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha mẹ Ta".
Sau đó Thế Tôn kể lại câu chuyện quá khứ về đạo sĩ Suvannasāma (Jā.540).
Câu chuyện quá khứ:
Có người nam tên Dukura và người nữ tên Pārikā
Được cha mẹ đôi bên đính hôn từ thuở nhỏ. Nhưng vì hai vị này từ cõi Phạm Thiên giáng sanh xuống làm người, nên không có sự luyến ái ngũ dục dù sống chung với nhau. Lúc cưới hỏi xong cả hai liền từ giả cha mẹ đi xuất gia làm đạo sĩ và đạo sĩ ni.
Vua trời Đế Thích hiểu rõ tiền nghiệp cả hai đạo sĩ ấy khi đến già cả hai sẽ bị mù mắt, không có người hộ độ nên hiện xuống yêu cầu hai vị gần gũi cho có con.
Đức Bồ Tát được sanh ra từ hai vị Đạo Sĩ đó và có tên là Suvannasāma. Lớn lên vừa biết được mọi việc thì cha mẹ bị mù. Ngài phụng dưỡng cha mẹ hết lòng, mỗi ngày vào rừng hái trái ngon ngọt dâng đến cha mẹ. Phần Ngài thì luôn khi tham thiền về "Tứ vô lượng tâm". Những loài thú thấy Bồ Tát có tánh hiếu đạo và nhất là hiền lành có từ tâm đối với mọi loài nên chúng hằng sống loanh quanh theo Ngài.
Một hôm trong khi đi lấy nước, Bồ Tát bị Đức vua Karaliyakkha xứ Bārānasī đi săn thú bắn nhầm. Vì tên có tẩm thuốc độc, làm cho Bồ Tát rất đau đớn, khổ sở, nhưng Ngài nghĩ rằng đây là quả khổ của nghiệp ác mà ta đã tạo, nên Ngài nhẫn chịu không oán trách chỉ than rằng: "Ai là người giết tôi? Từ khi tôi sanh ra đến nay được 16 tuổi. Cha mẹ tôi và tôi chẳng bao giờ làm điều ác. Nay tôi chịu chết đã đành nhưng rất thảm thương, cha mẹ tôi đều mù biết lấy ai nương nhờ, người là ai mà đến đây hại tôi thế này? Cha mẹ tôi chắc sẽ từ trần, vì không ai phụng dưỡng". Thở than bay nhiêu rồi Ngài bất tỉnh.
Đức vua nghe được hối hận lỗi mình làm, đi tìm hai vị đạo sĩ mù xin chịu lỗi và xin thay thế Bồ Tát nuôi dưỡng Cha Mẹ của Ngài.
Hai vị đạo sĩ sau khi nghe tin Bồ Tát chết, lấy làm thương cảm khóc than bèn nói lời chân thật và chú nguyện rằng: "Con của ta đây luôn thực hành tâm từ Ba La mật, là đứa con hiếu kính … Do lời chân thật này xin cho thuốc độc tiêu tan!"
Lúc ấy có nàng Thiên nữ từ núi Gandhamādana cũng bay đến phát lời chân thật nguyện rằng: "Tôi trú trên núi này rất lâu, chỉ có đạo sĩ Suvannasàma là nơi yêu mến vừa lòng của chúng sanh. Do oai lực lời chơn thật này, xin cho thuốc độc được tiêu tan." Liền khi ấy, nhờ đức tu trong sạch và tiền nghiệp đã hết nên Đức Bồ Tát được bình phục và hai mắt của cha mẹ Bồ Tát cũng được sáng tỏ như xưa.
Sau đó, Đức vua xin thọ giới tu theo Bồ Tát và trở thành vị đạo sĩ.
Nhận diện tiền thân:
Vua là Ānanda,
Nữ thần là Uppalavannā,
Thiên chủ Sakka là Anuruddha,
Người cha là Kassapa ,
Người mẹ là Bhaddakāpilāni.

Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Suvannasama, Ngài thực hành hạnh Từ Tâm Balamật. Ngài chăm sóc cha mẹ mù lòa. Ngài nọ, Ngài bị Kapilayakkha, vua xứ Benares, bắn chết. Cha mẹ Ngài cầu nguyện vàb thực hiện một lời nguyền chân thật, và mũi tên độc rớt ra khỏi thân Ngài, và Ngài sống trở lại. Và Ngài cũng thực hiện lời nguyền tương tự, và cha mẹ Ngài mắt sáng trở lại, thoát khỏi cảnh mù lòa.
Hạnh lành từ ái bao la
Chúng sanh bốn loại chan hoà tình thương
Lòng như cam lộ suối nguồn
Rải ban phúc lạc lệ tuôn quản gì
Hy sinh ngoại vật tứ chi
Hoặc luôn mạng sống sá gì huyển thân
Phật xưa pháp độ vẹn toàn
Chúng con nguyện bước theo chân Ðại Từ


Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

CHÍ NGUYỆN BA-LA-MẬT (ADHIṬṬHĀNAPĀRAMĪ)

Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Nemi, Ngài thực hành hạnh Chí Nguyện Balamật. Thần Ðế Thích Sakkha sai Matali đánh xe đến đưa Ngài đi viếng các cảnh địa ngục và thiên đàng, và các nơi trú ngụ của nam thiên và nữ thiên.
Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Nemi, Ngài thực hành hạnh Chí Nguyện Balamật. Thần Ðế Thích Sakkha sai Matali đánh xe đến đưa Ngài đi viếng các cảnh địa ngục và thiên đàng, và các nơi trú ngụ của nam thiên và nữ thiên.
Câu chuyện hiện tại:
Một buổi chiều nọ, bậc Đạo Sư cùng hội chúng đông đảo Tỷ- kheo đang dạo chơi trong vườn xoài, Ngài chợt thấy một nơi hợp ý Ngài. Vì muốn kể lại hành nghiệp của Ngài ở thời quá khứ, Ngài liền để lộ một nụ cười trên khuôn mặt cho hội chúng chiêm ngưỡng. Khi Tôn giả Ānanda hỏi tại sao ngài mỉm cười, Ngài đáp:
- Này Ānanda, ở chỗ kia, ngày xưa Ta đã nhập Thiền định vào thời vua Makhādeva.
Rồi theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, đức Thế-tôn ngồi xuống nơi Tôn giả mời Ngài, và kể câu chuyện quá khứ về đại vương Nimi - Nimi Jātaka (Jā. 541)
Câu chuyện quá khứ:
Một thời, Bồ Tát sanh làm Hoàng tử của nhà vua trị vì thành Mithilā trong quốc độ Videha.  Ngài là hậu thân của Vua Makhādeva, từ giã cõi Phạm thiên để làm cho con số thân thích xuất thế ly gia của dòng tộc ông chẵn 84 ngàn.  Do đó ông được gọi là Nemi, tức ra đời để khép lại chiếc vòng bánh xe.  
Ông lên ngôi lúc phụ hoàng xuất thế.  Ông trị vì theo chánh pháp và pháp bố thí cũng như dạy hai pháp này cho thần dân.  Một hôm, Vua Nimi khởi tâm hoài nghi giữa đời Thánh hạnh và pháp bố thí, thì ngôi của Thiên chủ Sakka nóng lên.  Thiên chủ xuất hiện và làm sáng tỏ thành quả vĩ đại của đời tu hành.  
Tiếng đồn của Vua Nimi lan đến cõi Tāvatiṃsa; Thiên chủ Sakka đưa xe và Quản xa Mātali đến rước ông.  Trên đường lên Thiên giới, Quản xa chỉ ông các địa ngục cũng như thiên đàng, vì ông muốn thấy cả hai đường ác và thiện.  Tới Sudhammā (Thiện pháp đường), ông thuyết cho chư Thiên tử.
Sau bảy ngày ở trên cõi Tāvatiṃsa,Vua Nimi trở về thành Mithilā và thuật lại cho dân chúng nghe những gì ông thấy. Một hôm, người thợ hớt tóc thấy sợi tóc bạc trên đầu ông, ông liền nhường ngôi, xuất thế như các tiền nhơn của ông từng làm (tục lệ trong dòng tộc ông), và đi tu khổ hạnh.  Thái tử Kaḷārajanaka của ông là vì vua thứ 84 ngàn của triều đại Makhādeva.
Nhận diện tiền thân:
Thiên chủ Sakka là Tôn giả Anuruddha;
Mātali là Tôn giả Ānanda.


Bởi do chí nguyện dẫn đường
Biết nơi cứu cánh mà nương lối về
Bờ kia là đạo bồ đề
Tự lòng đã quyết bến mê phải lìa
Hy sinh ngoại vật tứ chi
Hoặc luôn mạng sống sá gì huyển thân
Phật xưa pháp độ vẹn toàn
Chúng con nguyện bước theo chân Ðại Từ

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

CHÂN THẬT BA-LA-MẬT (SACCAPĀRAMĪ)


Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Vidhurapandita, Ngài thực hành hạnh Chân Thật Balamật. Ngài thuyết phục được Punnakayakkha khi người nầy cố gắng vô vọng để giết Ngài bằng cách đe dọa Ngài.
Trong một tiền kiếp khi Ðức Phật là Ngài Vidhurapandita, Ngài thực hành hạnh Chân Thật Balamật. Ngài thuyết phục được Punnakayakkha khi người nầy cố gắng vô vọng để giết Ngài bằng cách đe dọa Ngài.
Câu chuyện hiện tại:
Một ngày kia các Tỷ kheo đưa ra một vấn đề tranh luận tại Chánh pháp Đường, bảo nhau:
- Này các Hiền giả, Bậc Đạo Sư đã đạt đại trí, quảng trí, Ngài thật tinh thông, ứng đối mau lẹ, nhạy bén, lý giải sắc xảo và có khả năng đánh đổ mọi biện luận của các đối thủ của Ngài, nhờ uy lực Thắng trí của Ngài, Ngài đã phá tan những vấn đề nan giải do các vị hiền trí Sát-đế-ly đưa ra và khiến họ phải yên lặng chấp nhận. Sau khi an trú họ vào Tam quy và Ngũ giới, Ngài dạy họ con đường đưa Niết-bàn bất tử.
Bậc Đạo Sư đi vào, hỏi các Tỷ kheo đang ngồi bàn luận đề tài gì và khi nghe vậy, Ngài bảo:
- Này các Tỷ kheo, Như Lai sau khi đạt Trí tuệ Viên mãn, đã phá tan mọi lý luận của các đối thủ và giáo hóa các vị vua Sát- đế- ly cùng nhiều vị khác, việc chẳng phải kỳ diệu gì. Vì từ ngàn xưa khi Ta còn đang tầm cầu Trí tuệ Tối thượng, Ta đã đầy đủ trí tuệ để phá kiến các đối thủ. Hơn thế nữa, chính vào thời Vidhurakumàra, trên đỉnh Hắc Sơn, cao chừng sáu mươi dặm, nhờ uy lực Thắng trí của Ta, Ta đã hàng phục Đại tướng Dạ-xoa Punnaka, khiến y phải chịu im lặng và đem sinh mạng cúng dường.
Nói xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ về Bồ-tát Vidhura - Vidhurapaṇḍita Jātaka (Jā.545)
Câu chuyện quá khứ:
Có bốn vị vua là Vua Dhanañjaya-Korabba trị vì thành Indapatta (quốc độ Kuru), Thiên chủ Sakka, Xà vương Varuṇa, và Vua Venateyya của các Supaṇṇa (Kim xí điểu) — sau khi hành trì trai giới, vào ngự viên Migācira thuộc quyền của Koravya để tĩnh toạ thực hành Samôn hạnh. Vào một buổi xế chiều, chư vị gặp nhau tại một điểm trong ngự uyển để thảo luận xem ai là vị có đức hạnh cao hơn cả. Không quyết định được, chư vị đem câu chuyện đến Đại thần Vidhurapaṇḍita (Bồ Tát) để nhờ phân giải. Nghe qua lời giải bày của chư vị, Trí giả Vidhura tâu rằng đức hạnh của bốn vị đều là một, như “căm xe ở trục quay”. Hoan hỷ, Thiên chủ Sakka ban cho ông chiếc cẩm y bằng gấm thiên đình, Xà vương Varuṇa thưởng ông hạt minh châu, Kim xí điểu vương Venateyya tặng ông trành hoa bằng vàng, và Vua Dhanañjaya cấp cho ông một ngàn con bò cái.
Chánh hậu Vimalā của Xà vương Varuṇa nghe tài trí của Virudha ước mong được gặp Trí giả nên giả đau và nói chỉ được chửa bằng trái tim của Trí giả Vidhura. Công chúa Irandatī treo giải cho ai lấy được tim của Virudha. Dạxoa Puṇṇaka, cháu của Thiên vương Vessaṇa, muốn chiếm nàng nên xung phong. Ông vô cung vua Dhanañjaya và dùng danh tánh Kaccāyana đánh cá cược với nhà vua trong một ván súc sắc: nếu thua chàng sẽ hiến tặng viên bảo châu như ý, nếu thắng chàng chỉ xin được Trí giả Vidhura. Nhà vua thua cá cược. Vidhura đồng ý đi với Puṇṇaka.
Trước khi ra đi, Trí giả giải thích cho nhà vua về cuộc sống hưng thịnh của một cư sĩ tại gia và mời Puṇṇaka về nhà nghỉ ba hôm để ông khuyến giáo thân nhân gồm: phu nhân Anujjā, công tử Dhammapāla, và con dâu Cetā. Ba ngày đã mãn, Trí giả Vidhura lên đường theo Dạxoa Puṇṇaka. Dạxoa muốn giết Trí giả bằng kinh sợ nên hiện hình ác quỷ, sư tử, voi dữ, mãng xà, nhưng Trí giả không hề nao núng. Lúc biết được sự thật, Trí giả Vidhura ngồi trên Kāḷapabbata thuyết pháp và chuyển hoá Puṇṇaka; hoan hỷ, Dạxoa Puṇṇaka hứa đưa Trí giả trở về Indapatta; nhưng Trí giả Vidhura xin đi gặp Hoàng hậu Vimāla để thuyết pháp cho bà nghe. Đến cõi Xà vương, Trí giả Vidhura thuyết pháp trước cho Xà vương sau cho Chánh hậu. Hai vị đều hoan hỷ. Còn Dạxoa Puṇṇaka cưới được Công chúa Irandatī. Trong niềm hạnh phúc vô biên, Dạxoa Puṇṇaka tặng Trí giả Vidhura bảo châu và đưa ông trở về Indapatta. Tại đây, Trí giả Vidhura dâng bảo châu lên nhà vua và kể lại chuyện của mình. Nhà vua ban chiếu tổ chức lễ hội kéo dài một tháng để mừng Trí giả Vidhura trở về.
Nhận diện tiền thân:
Phu nhân Anujjā là Rāhulamātā;
Con trai Dhammapāla là Rāhula;
Xà vương Varuṇa là Tôn giả Sāriputta;
Kim xí điểu vuơng là Tôn giả Moggallāna;
Thiên chủ Sakka chỉ Tôn giả Anuruddha;
Vua Dhanañjaya chỉ Tôn giả Ānanda.


Thiện hiền chân thật không ngoa
Quí gìn lẽ thật như là bảo châu
Chân tâm ấy đạo nhiệm mầu
Nói làm nhất quán cho dù hiểm nguy
Hy sinh ngoại vật tứ chi
Hoặc luôn mạng sống sá gì huyển thân
Phật xưa pháp độ vẹn toàn
Chúng con nguyện bước theo chân Ðại Từ

Bhik Samādhipuñño Định Phúc